"Để trong mọi sự, Thiên Chúa được hết lòng yêu mến" (Ut in omnibus maxime ametur Deus) - Hội Dòng Khiết Tâm xin kính chào quý vị!
Rss Feed

Suy niệm CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN B

Lời Chúa: 1V. 17, 10-16; Dt. 9, 24-28; Mc. 12, 38-44
Mục lục
1. Của cho và cách cho (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)
2. Ánh mắt Thiên Chúa  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt) 
3. Cho bằng tấm lòng  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
4. Hai đồng ân phúc (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
5. Đồng kẽm đồng xu của tôi đâu?  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)
6. Nhỏ mà to  (Trầm Thiên Thu) 
7. Một số tiền nhỏ nhưng tấm lòng thật lớn  (Văn Hào, SDB)
8. Quảng đại và tự do (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)
9. Chúa Nhật 32 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)
10. Tất cả những gì bà có (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
11. Hai bà góa  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
12. Tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)
13. Sẻ chia tận tình  (Huệ Minh)
14. Đạo đức giả và quảng đại thật  (Lm. Pet. Lê Thanh Phục, CSsR) 
15. Để “của cho” nên lễ dâng đẹp lòng Chúa  (Lm. Đan Vinh – HHTM)
16. Bà góa nghèo (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ)
17. Lòng quảng đại và tín thác không giới hạn  (Dã Quỳ) 
18. Tình góa  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
19. Câu chuyện về người goá phụ _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm.
20. Bỏ vào tất cả _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ.
21. Từ thiện - Lm. Giuse Trần Việt Hùng.
22. Tấm lòng quảng đại.
23. Bỏ vào tất cả (Trích trong ‘Manna’).
24. Cho.
25. Bà góa nghèo đã bỏ thùng nhiều hơn mọi người _ Noel Quesson.


1. CỦA CHO VÀ CÁCH CHO

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Êlia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Vậy mà Lời Chúa hôm nay lại muốn khẳng định với chúng ta: Họ là những người đáng tôn trọng, bởi họ đã có những nghĩa cử đẹp. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả Thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán.
 
Người phụ nữ thời ngôn sứ Êlia, nghèo đến mức chỉ còn một chút bột và chút dầu trong bình, nhưng cũng sẵn sàng quảng đại làm cho vị ngôn sứ tấm bánh. Tấm bánh mà bà tặng cho vị ngôn sứ là tất cả những gì bà có, là niềm hy vọng cuối cùng của hai mẹ con bà. Vậy mà bà sẵn sàng hy sinh tất cả. Sự hy sinh của bà đã được ghi nhận và thưởng công ngay lập tức. Từ đó, hũ bột của bà không vơi và bình dầu của bà không cạn cho đến khi mưa xuống trên xứ sở.

Người phụ nữ thứ hai được nhắc đến trong Tin Mừng cũng là người đàn bà goá nghèo. Bà công đức vào Đền thờ chỉ vẻn vẹn hai đồng tiền kẽm, là số tiền rất nhỏ so với giá trị tài chính, nhưng Chúa Giêsu khẳng định: Bà đã dâng cúng tất cả mình có với lòng quảng đại và như thế có nghĩa bà bỏ nhiều hơn những người giàu có. Tác giả Tin Mừng cũng nhắc đến sự tương phản trong thái độ và y phục của những người cùng bước vào Đền thờ hôm ấy: trước hết là những kinh sư súng sính trong bộ áo thụng để phô trương và biểu diễn, rồi đến những người giàu có vênh vang khoe của. Bên cạnh họ, người đàn bà goá khiêm hạ, chỉ công đức được một chút tiền bạc. Tấm lòng của bà đã được ghi nhận, của cho không bằng cách cho.
 
Lời Chúa hôm nay muốn lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc. Thông thường, chúng ta hay quan sát và đánh giá theo những dáng vẻ bên ngoài. Tuy vậy, con người phải được tôn trọng trước hết là vì nhân phẩm của họ, rồi đến tư cách đạo đức và tấm lòng chân thành của họ đối với những người xung quanh. Sự thận trọng trong nhận định sẽ giúp ta tránh mọi sai lầm đáng tiếc, và tránh những thiệt hại cho những người có liên quan.
 
Lời Chúa cũng nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi.
 
Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.

.

2. ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt.

Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ. Người đã thấy. Và đã phán đoán. Qua cách quan sát và phán đoán ta có thể thấy được tâm hồn của Người.

Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ. Hàng hàng lớp lớp người tiến đến dâng cúng. Tin Mừng thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất. Chúa chỉ quan tâm tới một người nghèo nhất. Một bà góa. Bà góa này chắc chắn phải gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nhưng Chúa đã chú ý đến bà. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.

Chúa nhìn bên trong tâm hồn. Biết bao người giàu sang béo tốt quần là áo lụa, nhưng Chúa không nhìn. Chúa chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy gò, rách rưới. Biết bao người dâng cúng tiền rừng bạc biển mà Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen người phụ nữ bỏ vào thùng tiền hai đồng xu nhỏ. Không những khen mà Chúa còn cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác. Thì ra Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của bà. Một tâm hồn thiết tha yêu mến Chúa và với công việc nhà Chúa. Chúa đã thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.

Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi vừa dạy dỗ tôi về cách sống đạo và về cách nhìn người.

Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giàu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy biết chú ý tới những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội. Đừng xét đoán người theo hình dáng bề ngoài, theo y phục hay theo tiền của. Hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người. Có những người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp hèn. Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.

Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa. Đừng khoe khoang kiêu ngạo vì Chúa chỉ yêu thích tâm hồn bé nhỏ khiêm nhường. Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội, trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Trong Phúc Âm ta thấy Chúa quan tâm tới những người nào?

2- Chúa đánh giá người ta theo hình dáng bên ngoài hay tâm tình bên trong?

3- Vì sao Chúa khen bà goá dù bà bỏ rất ít tiền vào nhà thờ?

4- Bản thân tôi rút được bài học gì qua bài Tin Mừng hôm nay?

.

3.CHO BẰNG TẤM LÒNG

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình ảnh bà ôm cả tấm lòng dành cho cha. Rất đáng quý, rất đáng trân trọng. Nói là ôm cả tấm lòng vì khi gia đình có cây chuối ra hoa, ra buồng, họ đã nghĩ đến để dành cho ai. Khi ra bẹ chuối họ cũng nghĩ phải chọn bẹ chuối nào dành cho cha. Và rồi nâng niu nải chuối ngon nhất để mang biếu cha, đó là ôm trọn một tấm lòng chân thành thật quý giá!

Hình ảnh ấy khiến tôi cũng nhớ tới một bà cụ rất đơn sơ. Ngày tết bà ra chúc tuổi tôi. Bà nói: Nhà con có cây xoài ra trái. Con để dành trái xoài to nhất để mang tết cha. Thế mà đến ngày 28 tết trộm nó hái mất rồi! Con chẳng còn gì để biếu cha. Nghe cũng vui nên tôi nói với bà cụ: Bà đã dành cho cha cả tấm lòng rồi. Xin cám ơn bà.

Quả thực, người ta nói “của cho không bằng cách cho”. Giá trị của món quà không nằm ở giá trị đồng tiền mà quan yếu là ở tấm lòng dành cho nhau. Những người cần công việc họ biếu quà cho cấp trên hàng triệu nhưng không có tấm lòng. Quà họ biếu có toan tính lợi nhuận. Quà của họ không có tình yêu.

Quà tặng chỉ có giá trị khi nó mang cả tấm lòng yêu mến tri ân. Đó mới là món quà vô giá. Món quà nồng thắm tình yêu. Món quà không dựa trên giá trị đồng tiền mà hệ tại ở tấm lòng. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ mình có thật nhiều tiền mới giúp cha giúp mẹ, mới mua quà bánh cho ông bà.  . . Đừng cầu mong trúng số mới làm việc bác ái, mới đóng góp xây dựng giáo xứ . . .

Nếu như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó có cơ hội giúp đỡ tha nhân. Hãy thi ân trong khả năng của mình. Hãy làm việc thiện khi có cơ hội, đừng đợi chờ những chuyện ngoài tầm tay. Chúng ta không nên hứa hẹn hay chờ đợi ngày mai, mà ngay hôm nay hãy làm những việc tầm thường như: giúp một người già qua đường, lượm một cây đinh sét vương vãi trên đường, thăm viếng kẻ yếu đau . . .

Thiên Chúa sẽ nhìn tấm lòng chúng ta như Chúa đã nhìn thấy tấm lòng thành của Abel. Ngài đã vui nhận lễ vật của Abel, vì Ngài thấy ở đó có lòng thành tri ân. Thiên Chúa đã khinh dể lễ vật của Cain vì lễ dâng của ông không có lòng thành. Vì Ngài là Đấng thấu suốt tâm can. Ngài sẽ chúc phúc cho những lễ vật đơn hèn nhưng gói trọn tình yêu.

Hôm nay trong đền thờ khi mà nhiều người bỏ tiền dâng cúng, Chúa Giê-su chỉ nhìn thấy nơi bà góa tấm lòng thành. Bà bỏ tiền ít nhưng nồng ép vào đó cả tấm lòng thành. Bà không giầu của cải nhưng bà giầu tấm lòng. Bà biết tất cả là của Chúa ban, thế nên phải dâng lại cho Chúa là lẽ thường tình. Lễ vật của bà không giầu tiền bạc nhưng lại rộng lượng tấm lòng.

Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả là của Chúa. Cuộc sống của chúng ta là do Chúa ban. Hãy dâng tặng cho Chúa trong những công việc chung của Giáo hội, nhất là chia sẻ cho những người bất hạnh cơ hàn. Xin đừng đóng cửa lòng mình trong ích kỷ tham lam. Amen

.

4.HAI ĐỒNG ÂN PHÚC

Lm. Jos. DĐH

Từ xa xưa, ăn ngon mặc đẹp vẫn được coi là “cái thú” của giai cấp giầu có địa vị, họ cần hiểu biết ăn diện thế nào cho đúng phong cách để không ai xem thường. Rất có thể vì quan niệm xem mặt đặt tên, khiến cho việc ăn mặc bị lạm dụng, ăn thì thích ngồi chỗ nhất, mặc phải kiểu cách, khác người, ra đường thì muốn được người ta chào hỏi, kính trọng. Cũng từ việc ăn mặc, thói đạo đức giả, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều sinh hoạt cộng đồng, nơi hội đường và đền thờ, tính tham lam ích kỷ làm mất đi sự linh thánh.

Vào hôm đó, Chúa Giêsu quan sát thấy rất nhiều người bỏ tiền vào hòm công đức ở hội đường, hẳn không phải vì họ dâng cúng ít tiền, nhưng là vì Chúa phát hiện ra việc làm của họ không có tình yêu. Như một sự vô tư có mặt ở hội đường năm ấy, Chúa Giêsu nhận ra tấm lòng của bà góa nghèo, chỉ với 2 đồng tiền nhỏ bé, Ngài đã cho các môn đệ biết là bà đã bỏ vào hòm công đức nhiều hơn cả. Nhận xét ấy, ân phúc đó, cho thấy : Thiên Chúa biết rõ tấm lòng của từng người, Ngài muốn tình yêu chớ không cần hy lễ,

Hai đồng ân phúc của bà góa nghèo, chắc chắn đang tác động đến việc sống đạo của con người, 2 đồng tiền nhỏ đó vẫn an ủi những ai đang nghèo khổ, vẫn thức tỉnh người giầu về cách sử dụng tiền của cách hữu ích nhất. Lý do Chúa Giêsu quan tâm đến 2 đồng “tiền còm” của bà góa, vì bà đã dâng trọn cả tình yêu gói ghém trong gia sản mà bà dâng cúng. Thật trong lòng mới quí, giả trong tim mới đáng sợ; câu thành ngữ ấy nhiều người chúng ta đã nghe và đã cảm nhận về cách cư xử ở đời này.

Đánh giá về phẩm về lượng, về tính thật giả, tình nhẹ hay tình nặng…., chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Nhưng người xưa luôn có những lời khuyên xác đáng : đừng ăn quá miệng, đừng diện quá trán; hoặc lương thiện là đồng tiền duy nhất có thể hỗ trợ ta đi khắp thế giới. Cụ Nguyễn Du cũng khích lệ hậu thế chúng ta : thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Hãy trải lòng mình với tha nhân, như thế ta sẽ thấy cuộc sống giá trị hơn. Để lưu ý đám đông về “chữ tâm”, Chúa Giêsu cho thấy biết bao người giầu tiền lắm của, nhưng họ công đức, chia sẻ những thứ dư thừa, có của mà không có lòng, có làm phúc bố thí mà thiếu tình, thiếu nghĩa cũng như không.

Khi đưa ra lối sống giả dối, tính cách phô trương hình thức, Chúa Giêsu không có ý nhằm hạ nhục người giầu có chức quyền, đúng hơn Chúa cảnh tỉnh để chúng ta hãy sống thật với lòng mình : tự khiêm người ta càng phục, tự khoe người ta càng khinh. Ngày hôm nay, nhiều người cho rằng : khối óc là phương tiện để suy tư, muốn giầu, muốn thành đạt, phải có chí, có tâm, biết sử dụng chất xám cách hài hòa. Một số lại chủ trương : cứ tà tà, cái gì thái quá cũng hư bột hư đường, hay có đức mặc sức mà ăn, nghĩa là có đạo, có đức, ta sẽ có tất cả. Hãy tùy hoàn cảnh, ta hãy mạnh dạn đặt tình yêu vào hành động chân thực của mình.

Lên tiếng về cách sống đạo của đám đông Do-thái, Chúa Giêsu cũng không có ý lên án người giầu, hay khen người nghèo, mà Chúa để cao tấm lòng, dù có phần hơi trừu tượng, nhưng từ 2 đồng tiền nhỏ bé, Chúa đã cho thấy nét cao đẹp của tâm hồn bà góa. Mẫu thuẫn ở đời chúng ta thường gặp : có những người xét thấy họ nghèo hèn thật, nhưng cách cư xử và sự cho đi không tính toán, để rồi không ai nghĩ là họ nghèo. Có những người nhà to cửa rộng, trình độ học thức cao, nhưng chẳng ai muốn tiếp xúc, vào họ sống như một người nghèo và cô đơn chẳng có bạn bè thân thiết.

Dâng cúng tiền của nhiều ít vào hòm công đức, không phải là chuyện mới lạ đối với người Kitô hữu, có khác hơn là ta có ý thức đặt tấm lòng, đặt tình yêu vào các việc làm phúc đức không ? Tại hội đường năm xưa, Chúa Giêsu đề cao tấm lòng của bà góa nghèo với 2 đồng tiền “ân phúc”, tại cuộc sống hoặc nơi tâm hồn của chúng ta Chúa đang nhìn rất rõ về tương quan yêu thương của mỗi người. Hôm nay Chúa không hiện diện cách hữu hình để khen thưởng việc dâng cúng của ta, cũng không ai để “camera” ghi nhận lại việc bác ái tông đồ của cuộc đời ta, nhưng Chúa vẫn thấy và ghi nhận “ân phúc” cho từng người ta.

Hai đồng bạc “nhỏ bé” của bà góa nghèo sẽ còn được nhắc mãi cho đến khi thế giới hiện tượng này không còn nữa. Lòng quảng đại và đức ái của từng người Kitô hữu chúng ta chia sẻ hôm nay, hẳn còn được tồn tại muôn đời, dù ta có nhắm mắt xuôi tay, Chúa vẫn nhớ. Bà góa nghèo tiền của, nhưng lòng không nghèo, bà góa có thể thiếu tiền nhưng không thiếu tình. Chúng ta ở đây, hẳn ai cũng tài giỏi, giầu có địa vị hơn bà góa năm xưa, ai trong chúng ta cũng có thể cho đi một chút tiền, chia sẻ một chút tình, làm nhiều việc bác ái tông đồ ở mọi hoàn cảnh, điều đáng nói là ta có thực tâm để sống lời mời gọi của Chúa không ? Chúa chẳng đòi hỏi ta phải chiến thắng, nhưng Chúa cần ta trung thực, Chúa không bắt buộc ta thành công, nhưng Chúa muốn ta hãy nỗ lực hết mình. Hy vọng tấm lòng yêu mến và tinh thần xây dựng gia đình giáo hội của chúng ta, sẽ tiếp tục được Chúa chúc phúc, ghi nhận. Amen.

.

5. ĐỒNG KẼM ĐỒNG XU CỦA TÔI ĐÂU?

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Trong những ngày cuối niên lịch phụng vụ, khi mà Hội Thánh muốn mọi Ki-tô hữu suy niệm nhiều về các chân lý thời sau hết (tứ chung), chúng ta được mời gọi hướng tư tưởng về ngày ‘phán xét’, khi mỗi người đều phải ‘đứng trước mặt vị thẩm phán chí công’. Để chuẩn bị cho ngày đó, vấn nạn sẽ là: vị Thẩm Phán sẽ dùng tiêu chuẩn nào để phán xét tôi, cái ‘chí công’ của Ngài sẽ ra sao? Trình thuật Mác-cô hôm nay về ‘đồng xu đồng kẽm của bà góa’ được đặt ngay trước bài giảng dài về cánh chung trong chương 13, chắc hẳn phải soi chiếu một điều gì đó vào các vấn nạn trên. Mong rằng nó sẽ mang lại một giải đáp đầy an ủi mang tính Tin Mừng thật sự cho cái viễn tượng phán xét, thường vẫn tạo nên bao hãi hùng kinh khiếp.

Thẩm Phán chí công sẽ xét xử theo tiêu chuẩn nào? Người ta vẫn thường dạy rằng Thiên Chúa phán xét mỗi người theo công tội họ đã làm trong cuộc sống: nếu là người lương thiện ngay lành, tôi sẽ được thưởng, còn nếu làm điều dữ điều trái, tôi sẽ bị luận phạt muôn đời muôn kiếp. Căn cứ theo tiêu chuẩn này, tôi sẽ là người hoàn toàn trách nhiệm và chủ động về thưởng phạt; ơn thánh Chúa nếu có, cũng chỉ đóng vai trò trợ giúp. Tuy nhiên Giáo lý Công giáo lại dạy rằng, ơn cứu độ của Đức Ki-tô là cần thiết (essential) cho hết thảy mọi người, vì mọi người đều phạm tội. Nếu quả thật như thế, thì quan niệm phán xét trên có cái gì đó không ổn! Không một ai, cho dầu có cố gắng tu luyện tới đâu đi nữa, có thể ra trước tòa phán xét ‘xúng xính trong bộ áo thụng… đáng chiếm ghế danh dự’ vì đinh ninh rằng khi còn sống mình đã thu tích đủ ‘công nghiệp’ để đáng được thưởng công. Trước mặt vị Thẩm phán chí thánh chí công đó, mọi người đều chỉ là: ‘đầy tớ vô dụng’ (Lc 17:10). Thế nhưng may mắn thay trong ngày phán xét, vị Thẩm Phán lại cũng chính là Giê-su đang “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ… quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao”. Người sẽ không khen thưởng những kẻ bỏ thật nhiều tiền vào thùng, nhưng lại đề cao ‘một bà góa nghèo’, vì bà đã dâng cúng vào đền thờ ‘hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu’ mà bà đã ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’. Như thế để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày ra trước vị Thẩm Phán chí công, tôi rất cần biết cái ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’ đó có nghĩa là gì? Làm thế nào để Ngài cũng sẽ gọi các thần thánh lại, chỉ vào tôi và nói: “tên nghèo nàn đốn mạt này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”!

‘Đồng tiền kẽm… rút ra từ cái túng thiếu’ chắc chắn không phải là: các việc lành phúc đức tôi đã làm được trong đời, các thành công hoành tráng để có thể xứng đáng được ‘người ta chào hỏi’ tung hô trên thiên quốc; đó phải mãi mãi vẫn là những gì vô giá trị như đồng kẽm, đồng xu trước mặt người đời, nhưng lại vô cùng quí hóa trước mặt Thiên Chúa từ nhân. Phải chăng đó là: những cố gắng, những nỗ lực vươn lên khỏi sự thấp hèn yếu đuối tột cùng của mình… nhưng đã thất bại, vẫn hoàn toàn sụp đổ chẳng đi tới đâu. Sẽ chẳng bao giờ có ai trong đời, ngay cả chính tôi, đánh giá cao những điều đó, nếu không có cặp mắt ‘quan sát’ vô cùng chí công nhưng rất mực nhân hậu của Đức Ki-tô từ nhân. Có thể như phần đa mọi người, tôi phải thừa nhận: bất chấp những nỗ lực cố gắng, đời mình thành đạt không nhiều, nhưng thất bại thì lắm; “Điều tôi muốn thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi cứ làm’ (Rm 7:15). Rất nhiều khi tôi thấy mặc cảm và thất vọng vô cùng về các yếu đuối, sa ngã mình vướng mắc. May mắn thay, trong niềm tin vào Thiên Chúa từ nhân, suy đi nghĩ lại, tôi còn thấy: đời mình – và rất có thể nhiều mảnh đời khác cũng thế – không thiếu những đồng kẽm đồng xu của các nỗ lực vô vọng này; vì tuy được tạo dựng ‘nhân chi sơ tính bản thiện’, và mang trong người ‘hình ảnh của Thiên Chúa’, kiếp sống ô trọc nào mà không tránh khỏi các bất toàn yếu đuối? Do đó điều quan trọng nhất trong đời chưa hẳn là tránh được tội lỗi, nhưng là làm sao tranh thủ được cặp mắt ‘quan sát’ đầy từ tâm ấy, cặp mắt từng nhận ra giá trị của ‘đồng kẽm’ nơi bà góa, đồng xu nơi Phê-rô, nhưng lại không tìm thấy nơi các Biệt phái, thượng tế. Chỉ có thế thôi, và ngày phán xét sẽ đâu còn gì đáng sợ nữa!

Mẹ Tê-rê-xa Kơn-ka-ta hay lặp lại câu nói sau đây: “Chúa không muốn nhìn thấy bao nhiêu việc bác ái tôi đã làm, nhưng ngài muốn nhìn thấy bao nhiêu bác ái tôi đã nỗ lực đem vào các công việc của tôi”. Hình như Lời Chúa hôm nay cũng nhắc lại cùng một chân lý đó: Chúa không phán xét tôi căn cứ vào những gì tôi đạt được, nhưng cặp mắt nhân ái của Người muốn tìm thấy nơi tôi những đồng kẽm nhỏ nhoi của nỗ lực vươn lên thầm kín trong mọi tình huống cuộc đời. “Còn bà này thì rút ra từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản” hẳn mang nội dung rất an ủi đó chăng?

Nếu quả là như thế thì, cho những người yếu đuối và tội lỗi như tôi, Tin Mừng đích thực là đây: Tim Mừng có khả năng làm cho đứa con hoang đàng hay tên cướp bị tử hình trên thập giá thay vì hãi sợ, sẽ ra trước vị Thẩm Phán ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi’ (Lc 21:28).

“Hãy tạ ơn Chúa vì ngài nhân lành, vì tình thương của ngài bền vững muôn năm!” Lạy Chúa, con muốn cất lời ca ngợi lòng thương xót hải hà của Chúa, khi sống và nhất là trong giờ chết. Lòng thương xót đó cho phép con không mặc cảm trước những yếu đuối thiếu sót của mình, hơn nữa còn có khả năng biến chúng thành nguồn an ủi và hy vọng cho đến muôn đời. Xin cho con đừng bao giờ xa rời cặp mắt yêu thương đó, bây giờ và trong giờ lâm tử. A-men. 

6. NHỎ MÀ TO

Trầm Thiên Thu

Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, thấp mà ai cũng phải ngước nhìn,…

Thật vậy, toán học trên Nước Trời hoàn toàn khác với toán học ở thế gian, cách tính của Chúa Giêsu trái ngược với cách tính của chúng ta. Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa”.

Đối với người bi quan, ly nước b cn mt na và họ lo s ly đó sẽ tiếp tục cạn nữa. Đối với người lạc quan, ly nước được đy mt na và họ hy vng ly đó sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.

Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng – góa bụa. Nhưng người ta thường nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, Góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa lại đề cao con người khốn khổ này.

Trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Ê-li-a.

Sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Ê-li-a đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà goá ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông uống, xong rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề thật lòng là bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Ê-li-a bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên bà phải làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, rồi sau đó bà sẽ làm cho mẹ con bà. Ông cho biết rằng Thiên Chúa đã hứa là hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.

Bà góa đã và làm như ông Ê-li-a nói. Thế là mẹ con bà và ông Ê-li-a có đủ ăn lâu ngày vì hũ bột không vơi và vò dầu chẳng cạn đúng như lời Đức Chúa đã hứa.

Chỉ có Thiên Chúa làm được như vậy, vì Ngài là Tạo Hóa duy nhất, chẳng có thần thánh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Ly Tri mưa xung, ly nước tôi ung, ly rung tôi cày, ly đy bát cơm. Quả thật, El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều phải chịu khổ (1), vì khô quá hoặc ướt quá cũng “mệt mỏi” lắm!

Có những hiện tượng bất thường, chúng ta gọi đó là thiên tai, nhưng thực ra chỉ là nhân tai. Vì chính chúng ta phá hại môi trường nên mới có những hiện tượng bất thường, chứ Thiên Chúa tạo dựng thiên nhiên tốt đẹp lắm. Ngài có thể ngăn chặn, nhưng Ngài cho phép điều xấu xảy ra vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta, và cũng là để chúng ta chịu khổ mà “sáng mắt” ra.

Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài rất nhân hậu nhưng cũng rất công bằng (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11). Tác giả Thánh Vịnh nói: “Thiên Chúa x công minh cho người b áp bc, ban lương thc cho k đói ăn. Chúa gii phóng nhng ai tù ti, Chúa m mt cho k mù loà. Chúa cho k b dìm xung đng thng lên, Chúa yêu chung nhng người công chính” (Tv 146:7-8). Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt ai, dù quen hay lạ, đặc biệt là xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù tr nhng khách ngoi kiu, Người nâng đ cô nhi qu ph, nhưng phá v mưu đ bn ác nhân. Chúa nm gi vương quyn muôn muôn thu, Sion hi, Chúa Tri ngươi hin tr ngàn đi” (Tv 146:9-10).

Con Thiên Chúa đã hạ mình đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, không chỉ ngày qua hoặc ngày nay, mà cả ngày mai và muôn thuở muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng điều đó: “Đc Kitô đã chng vào mt cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh y ch là hình bóng ca cung thánh tht. Nhưng Người đã vào chính cõi tri, đ gi đây ra đng trước mt Thiên Chúa chuyn cu cho chúng ta. Người vào đó, không phi đ dâng chính mình làm ca l nhiu ln, như v thượng tế mi năm phi đem theo máu ca loài khác mà vào cung thánh” (Dt 9:24-25). Trên cả tuyệt vời, hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà nên trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta.

Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phi chu kh hình nhiu ln, t khi thế gii được to thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thi gian, Người đã xut hin ch mt ln đ tiêu dit ti li bng vic hiến tế chính mình. Phn con người là phi chết mt ln, ri sau đó chu phán xét. Cũng vy, Đc Kitô đã t hiến tế ch mt ln, đ xoá b ti li muôn người. Người s xut hin ln th hai, nhưng ln này không phi đ xoá b ti li, mà đ cu đ nhng ai trông đi Người” (Dt 9:26-28).

Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Một sự trùng hợp thú vị. Cuối năm cũng là dịp nhắc nhở mọi người về đoạn cuối cuộc đời của mình. Cuối năm nghĩa là sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuối đời nghĩa là chúng ta sắp chết và cũng chắc chắn sẽ chết. Chuyện nhỏ mà to, chuyện bình thường mà đặc biệt. Chết rồi còn lại gì? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ có những gì chúng ta trao tặng sẽ còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức, mà nhân đức quan trọng nhất là đức ái, đơn giản là những gì chúng ta CHO người khác. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Lúc hiến thân là lúc nhn lãnh, lúc quên mình là lúc gp li bn thân”. Đức ái vô cùng kỳ diệu, và còn mãi muôn đời!

Trình thuật Mc 12:41-44 (tương đương Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà goá nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHN” (Cv 20:35). Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái” (1 Cr 16:14).

Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu b tht nhiu tin, cũng có mt bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đng tin km, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (2). Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy các môn đệ một bài học quý: “Thy bo tht anh em: bà goá nghèo này đã b vào thùng nhiu hơn ai hết. Qu vy, mi người đu rút t tin dư bc tha ca h mà đem b vào đó; còn bà này rút t cái túng thiếu ca mình mà b vào đó tt c tài sn, tt c nhng gì bà có đ nuôi sng mình.

Thánh Luca cũng cho biết tương tự: “Bà goá nghèo này đã b vào nhiu hơn ai hết. Qu vy, tt c nhng người kia đu rút t tin dư bc tha ca h mà b vào dâng cúng; còn bà này rút t cái túng thiếu ca mình mà b vào đó tt c nhng gì bà có đ nuôi sng mình” (Lc 21:3-4). Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.

Qua câu chuyện thực tế này, Chúa Giêsu chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đo đc gi trong cách dâng cúng công đức của mình nhm tìm kiếm s tôn trng t người dân. Ngài chỉ trích người khác chứ Ngài có chỉ trích chúng ta? Bóp trán hoặc vắt tay lên trán mà suy nghĩ, liệu chúng ta có thấy lòng mình thanh thản?

Ông A dâng cúng bạc tỷ thì có bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì có bằng ân nhân bậc I, II, III,… anh C dâng cúng vài triệu thì có bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai thèm cưới nhếch mép với chị vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ, chị sợ người ta nhìn thấy! Cái nào NHỎ, cái nào TO?

Việc dâng cúng là cần thiết, rất tốt, nhưng những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có thể chúng ta cũng rất cần cảnh giác mà đặt vấn đề: “Chưa ri đo nhưng ri vic đo!”.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sng tht vi chính mình, biết mình và biết người, đ đng se sua hoc “ra cái v” vi người khác. Xin dit tr trong con mi ý nghĩ xu xa, ích k. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loại. Amen.

—–

(1) Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño (eo ni-nhô) nghĩa là “bé trai”, có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đng. C trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng bin ti Peru phát hin ra nước bin m dn lên vào mùa đông, khong vài tun trước L Giáng Sinh. Đây chính là mt nghch lý, nhưng nó vn tn ti có chu kì và kéo theo hin tượng hơi nước bin bc lên nhiu hơn, to ra nhng cơn mưa như thác đ. Và ngư dân đã gi hin tượng này là El Niño đ đánh du thi đim xut phát ca nó là gn Giáng Sinh. El Niño là hin tượng nước biển nóng lên.

Theo tiếng Tây Ban Nha, La Niña (la ni-nha) nghĩa là “bé gái”, là hin tượng trái ngược li vi hin tượng El Niño. Hin tượng La Niña thường bt đu hình thành t tháng Ba đến tháng Sáu hng năm, và gây nh hưởng mnh nht vào cui năm cho ti tháng Hai năm sau. La Niña xy ra ngay sau khi hin tượng El Niño kết thúc. La Niña là hin tượng nước bin lnh lên. La Niña còn được gi là El Viejo hoặc Anti-El Niño.

(2) Giá trị 2 đng km (Hy ng, s ít: lepton, s nhiu: lepta) là 1 quadrans, ch bng 1/4 đng xu. Đng km là đơn v tin t nh nht thi La Mã. Khi lưu hành Palestine, 1 lepton tr giá khong 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày.

.

7. MỘT SỐ TIỀN NHỎ NHƯNG TẤM LÒNG THẬT LỚN

Văn Hào

Nhà văn Anderson Đan mạch đã viết một câu truyện kể lại sự kiện xảy ra trong chính cuộc đời của ông. Câu truyện vắn tắt như sau: “ Vào một buổi tối mùa thu, ông đi dạo phố một mình tại thủ đô Copenhague. Ông bỗng nghe một giọng nói yếu ớt từ đằng sau vọng lại: “ Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm.” Nhà văn quay lại, chợt nhận ra một đứa bé gái, gương mặt xanh xao, quần áo nhầu nát bẩn thỉu. “Chú ơi mua hộ cháu bao diêm, cả ngày cháu chưa bán được một xu nào.” Giọng cô bé thật buồn. Nó bùi ngùi kể lại hoàn cảnh đáng thương của nó. Mẹ chết sớm, con bé phải ở với một người cha nghiện ngập và khá cọc cằn, nhưng nó rất thương bố nó. Nó cố lê lết khắp nơi để bán diêm, kiếm chút tiền mang về cho bố những bữa ăn ngon. Anderson xúc động cho con bé ít tiền. Đứa bé sáng rực đôi mắt và thầm nghĩ nó sẽ mua về cho bố tối nay một ổ bánh mì thật ngon. “ Chú ơi sao chú tốt với cháu thế? Chú tên gì, và chú làm nghề gì ?” – Chú tên Anderson, và chú làm nghề này. Nhà văn lấy tay vẽ vào khoảng không hình một cái bút, ám chỉ ông là nhà văn. Đứa bé vẫn không hiểu tưởng ông làm nghề bán bút giống như nó đi bán diêm vậy. Anderson hẹn với đứa bé đầu năm tới, ông sẽ trở lại và cho nó một món quà, còn bây giờ ông phải đi xa.

Nhiều tháng trôi qua, Anderson quên mất lời hứa của mình. Một bữa nọ, tình cờ ông trở lại Copenhague và chợt nhớ tới đứa bé, mua cho nó một chiếc áo ấm, và đi tìm nó. Người chủ tiệm bên đường nói cho ông biết rằng con bé đã chết rồi. Ngày đầu năm, người ta thấy đứa bé nằm chết cóng bên đường không biết từ lúc nào. Nó nằm chết giữa một đống bao diêm, trong đó có một bao đã hết nhẵn. Có lẽ nó đốt diêm để sưởi cho bớt lạnh. Có điều, là khi nó chết, khuôn mặt vẫn còn hồng hào và dường như nó đang mỉm cười chờ đợi một cái gì đó.

Anderson đứng chết lặng. Người chủ tiệm nói tiếp, “ Khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi áo của nó rơi ra một vật gì giống như chiếc quản bút làm bằng những que diêm. Chắc nó làm để tặng ai đó, vì trên quản bút có viết hàng chữ ‘tặng chú Anderson’.

Câu chuyện cảm động trên không phải là một câu chuyện hư cấu, nhưng là một kỷ niệm buồn trong chính cuộc đời của nhà văn. Câu chuyện này cũng giống như giai thoại về người đàn bà góa nghèo khổ mà thánh Marcô thuật lại trong Tin mừng hôm nay. Cô bé bán diêm và người đàn bà góa khá giống nhau. Giống nhau ở chỗ cả hai đều là những con người rất nghèo, bị xã hội bỏ rơi. Giống nhau cũng ở chỗ cả hai là những con người rất quảng đại, biết cho đi những gì mình có. Nhưng điểm giống nhau căn bản, vì họ là những con người tuy nghèo về vật chất, nhưng lại rất giàu về lòng nhân ái.

Thân phận bà góa: người nghèo của Giavê

Trong bài đọc một, tác giả sách Các Vua quyển thứ nhất cũng thuật lại giai thoại về một bà góa nghèo thành Sarepta. Người phụ nữ này đã trao tặng ngôn sứ Elia tất cả phần lương thực ít ỏi còn sót lại trong nhà. Lòng quảng đại đó đã được Thiên Chúa đền đáp: Hũ bột của bà không bao giờ vơi và bình dầu không bao giờ cạn. Vị tiên tri còn thực hiện phép lạ cứu sống đứa con trai của bà. Trong xã hội Do Thái khi xưa, những phụ nữ góa chồng bị xã hội gạt ra bên ngoài. Họ không có một quyền lợi gì về mặt xã hội. Nhưng ngay từ thời Môise, vị thủ lãnh đã ban hành lề luật là không được làm hại cô nhi, quả phụ (Đệ nhị luật 27, 19 ). Các ngôn sứ thường gọi các bà góa là những người nghèo của Giavê (anawim), tức là những con người được Thiên Chúa chúc phúc. Đặc biệt đến thời Chúa Giêsu, Ngài luôn lên tiếng bênh vực các bà góa, là những người thấp cổ bé họng trong xã hội. Hình ảnh của người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay là một minh dẫn cụ thể. Ngay cả người phụ nữ Samari, một người đàn bà ngoại giáo đã góa chồng và sống lang chạ với 5 người đàn ông khác, Chúa cũng không kết án và coi khinh chị. Ngược lại, Chúa kết án gay gắt thái độ giả hình của các đầu mục Do thái, làm ra vẻ đạo đức để moi hết tiền bạc của các bà góa ( Lc 20, 47; 7, 11 ). Chúa cho đứa con trai bà góa thành Naim sống lại cũng để diễn bày lòng thương cảm với những người đàn bà bị bỏ rơi trong xã hội thời bấy giờ (Lc 7,11-17). Ngôn sứ Anna, một phụ nữ góa chồng ngày đêm cư ngụ và phục vụ đền thánh, cũng là một hình ảnh nổi bật về mẫu người luôn được Thiên Chúa yêu thương và chúc lành.

Người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đề cao như một mẫu gương. Bà rất nghèo nhưng lại giàu lòng quảng đại. Điểm son nơi người phụ nữ này không phải là những danh giá xã hội hoặc sự giàu sang phú quý bên ngoài, nhưng chính là tấm lòng nơi bà. Chúa nói với các môn đệ “ Thầy bảo thật anh em, bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” ( Mc 12, 43 ).

Chẳng ai cho không cái gì

Người ta vẫn thường nói thế. Trong đời sống xã hội hiện nay, hầu như chẳng có ai cho không hoặc biếu không cái gì. Khi trao tặng một phần quà, ngay cả những món quà từ thiện, chúng ta dễ ngầm đặt ra điều kiện, ít nhất là để khoe khoang sự quảng đại của mình cho người khác thấy. Tính ích kỷ và keo kiệt là một nết xấu ai cũng có. Mỗi khi làm công tác từ thiện, nhiều cá nhân cũng như những tổ chức xã hội thường hay bày biện những hình thức rầm rộ, nào cờ xí, nào nghi thức, nào chụp hình đăng báo….Điều này vẫn xảy ra ngay cả nơi các tổ chức tôn giáo. Dâng cúng nhà thờ một bức tượng, một cái ghế đá… cũng phải được rao tên tuổi, phải được phát bằng ân nhân, khi chết giáo xứ phải xin lễ cầu nguyện để trả nghĩa v..v. Điều này không có gì đáng nói, nếu người cho không ngỏ ý mà người nhận tự nguyện biểu tỏ sự biết ơn. Nhưng, nhiều khi thói quen đó trở thành một căn bệnh chỉ nhằm để khoe khoang. Một vị linh mục khi đến tham dự lễ khánh thành tháp chuông tại một nhà thờ nọ, lúc nghe rao tên tuổi vị ân nhân đã khôi hài pha chút mỉa mai nói rằng: Chuông nhà thờ kêu rất sang và rất hay. Nó kêu “ Kiêu căng, kiêu căng” thay vì kính koong kính koong như các chuông nhà thờ khác. Chúng ta hãy từ từ đọc kỹ lại bài Tin mừng hôm nay để suy nghiệm điều này. Đức Giêsu trước khi quan sát người ta bỏ tiền vào hòm dâng cúng, đã cảnh báo các môn đệ: “ Anh em phải coi chừng những kinh sư ưa đi dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ thích chiếm chỗ nhất trong hội đường, thích ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc” (Mc 12, 38 ). Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng đưa ra huấn dụ căn bản để giúp chúng ta nên hoàn thiện. Một trong những huấn dụ đó, là “ Khi anh em bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6, 3 ), tức là đừng khoe khoang, khua chiêng gõ mõ để đề cao cái tôi kiêu ngạo của mình.

Sự khoe khoang đi đôi với tính keo kiệt, tức là cho đi với điều kiện. Điều kiện là phải được công bố tên tuổi cho bàn dân thiên hạ được biết. Điều kiện là phải được nể trọng như một vị ân nhân. Song chúng ta rất dễ quên rằng, mọi sự chúng ta đang sử dụng đều là ân huệ của Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ còn chúng ta chỉ là người quản lý. Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu của người đàn bà góa hôm nay. Chúa đề cao lòng quảng đại của bà, chứ Ngài không ca ngợi những người giầu có hoặc cánh Pharisiêu đã bỏ ra những số tiền kếch xù thừa thãi chỉ để phô trương. Người Pharisiêu khoe với Chúa: “ Con ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng 1 phần mười tài sản của con”. Khi kể dụ ngôn này, chúng ta đều biết Chúa đã kết luận như thế nào.

Đức Giêsu, mẫu gương tuyệt hảo về lòng quảng đại

Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt các tu sỹ tự nguyện sống nghèo như lời khấn đã cam kết với Chúa. Người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng nghèo xác nghèo xơ. Gia sản duy nhất bà sở đắc chỉ là 2 đồng xu cỏn con. Nhưng, nói một cách sâu xa hơn, mẫu gương tuyệt hảo về tinh thần nghèo khó mà chúng ta phải học hỏi và sao chép, không ở đâu khác mà chính từ nơi Đức Giêsu. Không ai nghèo như Ngài và cũng không ai quảng đại bằng Ngài. Trong thư thứ 2 gửi giáo đoàn Côrinthô, thánh Phaolô đã viết: “ Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý nhưng đã trở nên nghèo khó để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” ( 2Cr 8, 9 ). Ngài tự nguyện sống kiếp con người, sinh ra trần trụi không nơi trú thân. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu”. Cao điểm của sự nghèo khó nơi Ngài, là Ngài đã bị phơi thây chết trần trụi trên thập giá. Đôi tay Ngài dang rộng, không tích lũy bất cứ một thứ của cải nào. Nhưng cũng chính đôi tay ấy đã trao ban tất cả, ngay cả đến mạng sống để hiển thị điều mà Ngài đã nói với các học trò trong bữa tiệc ly: “ Không có tình yêu nào cao cả cho bằng mối tình của người hiến dâng sự sống cho bạn hữu”(Ga 15,13).

Hôm nay Chúa nêu ra mẫu gương về lòng quảng đại của một người đàn bà góa nghèo khổ. Đồng thời, Ngài cũng mời gọi chúng ta tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi Thập giá để trải nghiệm lòng quảng đại vô bờ bến mà chính Ngài đã diễn bày.

Đây là sứ điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn khải thị. Một vị thánh đã nói: “ Không ai trong chúng ta nghèo đến mức độ không có gì để mà cho”. Chúa chẳng thèm để ý tới những món tiền kếch xù mà những người giàu có đã dâng cúng vào đền thờ, nhưng Ngài nhắc các học trò mẫu gương của một phụ nữ nghèo. Bà ta nghèo mạt rệp, chỉ có 2 xu, nhưng đã trao dâng tất cả. Một số tiền quá nhỏ, nhưng tấm lòng thật lớn.

Chúng ta nhớ lại trình thuật Chúa làm phép lạ nuôi sống năm ngàn người ăn no. Một đứa bé trao cho Chúa 5 cái bánh và 2 con cá, chẳng đáng giá bao nhiêu. Nhưng Đức Giêsu đã trọng thị đón nhận sự quảng đại của nó, và từ đó phép lạ đã xảy ra. Thiên Chúa không bao giờ lượng giá con người qua những hình thức và số lượng bên ngoài. Ngài biết rõ tâm can từng người. Đồng thời Ngài cũng không bao giờ thua kém lòng quảng đại của chúng ta.

Kết luận

Có một giai thoại trong cuộc đời thánh Phanxicô Assisi đã được nhà văn Nikos Kazantzakis viết thành tiểu thuyết. Sau khi Phanxicô đã cho đi tất cả của cải của mình, phân phát cho người nghèo, Ngài bắt đầu đi lang thang khất thực. Vị thánh vừa đi vừa hát. Một anh bạn cũ rất thân quen gặp lại Ngài đã rất ngỡ ngàng và hỏi: “Này Phanxicô, đôi giày đắt tiền, chiếc đồng hồ quý giá, quần áo sang trọng của anh đâu rồi?”. Phanxicô trả lời: “ Tất cả những thứ đó là của ma quỷ, tôi đã trả lại cho nó hết cả rồi.” Người bạn hỏi tiếp: “ Anh từ đâu lang thang đến đây và anh đang định đi đâu thế? – “Tôi đến từ một nơi rất xa và tôi cũng đang đi về nơi xa xăm ấy”. Người bạn lắc đầu không hiểu và hỏi tiếp: “ Thế tại sao anh vừa đi vừa hát nghêu ngao như một thằng điên?” – “Tôi hát để khỏi bị lạc đường.”

Là người đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng rất dễ lạc đường, nếu để cho của cải bủa vây. Điều quan trọng nhất là chúng ta dám bứt phá, dám phá đổ pháo đài ích kỷ của mình để biết quảng đại cho đi như người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay.

.

8. QUẢNG ĐẠI VÀ TỰ DO

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Người nghèo thường quảng đại và sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người khác. Họ tự do với bạc tiền danh lợi, nên có thể tin vào con người và sẵn sàng yêu thương phục vụ hơn.

Hãy coi chừng

Chúa Yêsu nói với mọi người: “hãy coi chừng” những ông kinh sư, họ thích mặc áo thụng xúng xính khác người, thích được chào hỏi, thích ngồi chỗ nhất, nhưng lại “nuốt” hết tài sản của các bà góa, lại còn giả bộ đọc kinh lâu giờ.

Không phải chỉ những ông kinh sư thời Đức Yêsu thích rồi làm như vậy, mà con người ngày nay cũng vậy nữa: cũng tham của người, ham danh hám lợi, và hay giả bộ “đạo đức”. Nếu đạo đức thật, mà người ta thấy thì cũng tốt vì làm gương sáng; còn nếu không đạo đức mà lại làm như thể đạo đức, là giả hình. Hãy coi chừng.

Nếu ai thích khen, người đó có thể bị điều khiển bằng lời khen; nếu ai tham của, người đó có thể bị mua chuộc bằng tiền của. Người đó đang bị nô lệ, bị sai khiến bởi tiền bạc danh vọng chức quyền. Người đó tưởng họ đang tự do, nhưng thực sự họ đang nô lệ và bị điều khiển mà họ không biết. Hãy coi chừng.

Nếu bạn không nô lệ những điều đó, thì hạnh phúc biết bao!

Người nghèo quảng đại

Tiên tri Elia trên đường lánh nạn đã được Chúa truyền đến sống nhờ một bà goá nghèo. Cũng có thể nói bà goá nghèo và con bà sống nhờ tiên tri, vì chính nhờ tiên tri mà hũ bột không cạn và hũ dầu không vơi. Đúng hơn Thiên Chúa thương cả tiên tri lẫn bà goá nghèo nên đã nuôi sống tất cả.

Bà goá chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu, lượm củi làm cái bánh cuối cùng để “ăn rồi chết”, thế mà bà vẫn tin lời tiên tri, làm cho ông một cái bánh trước khi làm cho con bà và chính bà. Cách hành xử của bà goá này rất đẹp. Tôi có đơn sơ tin người và sẵn sàng giúp người như bà goá nghèo này không? Thiên Chúa  qúa tuyệt.

Bà goá trong Tin Mừng được Đức Yêsu khen là quảng đại, dám dâng cúng tất cả những gì mình có. Có người nói rằng: “vì bà goá chỉ có mấy xu nên dễ dàng để dâng cúng tất cả, còn nếu bà goá này thật giầu thì chắc bà chẳng dám bỏ tất cả đâu”! Cũng có thể như vậy, nhưng “những người quảng đại” thường nghèo; có lẽ họ “hay cho” nên mới không giầu. Bà goá đó không giầu được vì bà luôn cho tất cả, dù khi bà có hai xu hay có nhiều hơn hai xu, có lẽ chưa khi nào bà giữ cho mình được mười đồng vì bà vẫn cho những gì bà có. Thiên Chúa cũng cho con người tất cả, ngay cả điều qúy nhất là Chúa Con và Thánh Thần.

Những người “ham tiền” thường ky cóp và không bỏ ra ngay cả một xu!

Người nghèo dễ tự do để chọn theo Thiên Chúa hơn

Có mấy người hiểu được hạnh phúc của người nghèo? Có mấy người hiểu được người nghèo tự do đến mức nào? Trong cuộc sống, bao nhiêu quyết định bị chi phối bởi sợ người này hay không dám làm mất lòng người kia, sợ người khác hiểu lầm mình, sợ người khác không còn đánh giá mình cao nữa, sợ người khác biết sự thật về mình. Vì sợ nên không được tự do.

Xin Chúa cho con nghèo, để con không còn gì để phải sợ, để con chỉ còn biết sống theo Chúa theo sự thật, để chỉ bị tình yêu thương chi phối mà thôi.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

  1. Xin bạn kể nỗi sướng điều khổ của người giầu?
  2. Xin bạn liệt kê điều cực và cái hay của người nghèo?
  3. Bạn thường bị nô lệ bởi điều gì nhất khi quyết định? Làm sao để quyết định tự do?

.

9. CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy ngày nay vì ảnh hưởng của xã hội và vật chất, nhiều người sợ hy sinh vì nó ảnh hưởng đến thể xác, ý muốn, và thời gian hưởng thụ của họ, và họ nghĩ rằng, hy sinh sẽ bị thiệt thòi vật chất và nhiều phương diện trong cuộc sống. Nhưng nếu mọi người đều sợ và sống ích kỷ làm sao cộng đoàn, xã hội và thế giới này có thể tồn tại, đứng vững, đừng nói tới việc thăng tiến cá nhân và gia đình. Nếu chúng ta thu hẹp cái nhìn vào khía cạnh tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình mà thôi, chúng ta có thể nhận thấy, tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình thực sự đòi vợ chồng phải hy sinh trọn vẹn cuộc sống, hy sinh tất cả những gì mình có, tâm hồn và thể xác của cuộc sống, chứ không phải chỉ hy sinh thể xác hay cuộc sống bên ngoài mà thôi. Và sự hy sinh cao cả nhất một người có thể làm được là hy sinh chính mạng sống của mình.

Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy trong xã hội, con người chúng ta có thể đánh giá người khác qua sự trưng diện bên ngoài. Hay chúng ta có thể đánh giá một hành động, hay một việc làm qua những số lượng hình thức bên ngoài. Nhưng đối với Thiên Chúa, chúng ta biết Chúa đánh giá theo tâm lòng, theo tâm tình bên trong. Chúa biết rõ, Chúa nhìn thấy rõ bên ngoài cũng như bên trong con người chúng ta. Chúa biết rõ đức tin và tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và tha nhân như thế nào. Chúa biết rõ tâm tình hay thái độ của mỗi một sự hy sinh, mỗi một hành động đạo đức như đọc kinh, cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, hay mỗi một công việc bác ái quảng đại chúng ta làm cho Chúa và cho người khác với động lực gì.

Các bài đọc lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy ý nghĩa, giá trị của những sự hy sinh cho tha nhân và cho Chúa của các tâm hồn cao quí, cho dù phải hy sinh mạng sống mình. Và qua đó, Chúa dạy chúng ta bài học rất thực tế về hình thức bề ngoài và tâm tình chân thật bên trong của một việc làm, cũng như kết quả của việc đó. Bài Đọc I, cho chúng ta thấy sự hy sinh cao quí của bà góa thành Sa-rep-tha cho tha nhân. Bà can đảm hy sinh nắm bột và chút dầu còn lại sau cùng để làm bánh cho tiên tri Ê-li-a và hai mẹ con. Bà biết ăn xong là hai mẹ con sẽ chết vì đói. Bài đọc 1 cũng cho chúng ta biết kết quả của niềm tin của bà vào lời ngôn sứ, và sự hy sinh của bà là: hai mẹ con có bánh ăn muôn đời. Có những lúc Thiên Chúa thử thách, nhưng Chúa luôn trả công cho những người có niềm tin vững chắc nơi Ngài, và biểu lộ tâm tình yêu mến tha nhân qua hành động chân thành, qua sự hy sinh cao quí.

Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô khẳng định và cho chúng ta biết nhờ sự hy sinh vô cùng cao quí của Chúa Giê-su Kitô đã hy sinh đổ máu trên Thánh Giá, con người nhân loại chúng ta được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và được sống muôn đời. Vì vâng lời thánh ý Chúa Cha, và vì trong trái tim của Chúa Giê-su chất đầy tình yêu thương cho con người nhân loại tội lỗi, Chúa đã hy sinh chịu những đau khổ và chứng tỏ tình yêu của Chúa qua cái chết trên Thánh giá, để vinh danh Chúa Cha và để cho chúng ta cũng được sống lại vinh quang với Ngài.

Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu quan sát những người bỏ tiền dâng cúng trong đền thờ. Ngài thấy có nhiều người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân, để sống. Bà góa này tuy dâng cúng ít nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng “tất cả những gì mình có để nuôi sống.”

Có một câu chuyện về một cặp vợ chồng về quê thăm họ hàng trong ngày nghỉ lễ. Họ lái xe được một quãng đường thì trời đổ mưa tầm tã và xe thình lình bị hư dọc đường. Đêm đã khuya và lạnh mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Sau khi đã hết mưa, họ bèn bỏ xe, đi bộ đến gõ cửa một căn nhà gần đó có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống. Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ để một số tiền lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà ngoài phòng khách. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất. Câu truyện này giúp cho chúng ta hiểu và thấy ý nghĩa cao quí của việc hy sinh, cũng như tâm tình yêu thương của 2 bà góa trong bài đọc 1 và trong Tin mừng, đã cho đi tất cả những gì mình có.      

Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy hai khía cạnh, hai mặt của 1 việc làm, của một hành động đạo đức và quảng đại. đó là: hình thức bề ngoài và tâm tình bên trong. Nhưng mặt nào trọng hơn? Theo Chúa Giê-su thì mặt tâm tình trọng hơn mặt hình thức, vì vậy, Chúa đã gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy việc làm và thái độ của bà goá, và nói “Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa. Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.”  

Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giê-su coi trọng tâm tình hơn hình thức nhưng Chúa không loại trừ hình thức. Chúng ta thấy tuy hình thức không quan trọng bằng tâm tình, nhưng nó cũng rất cần. / Chính hình thức biểu lộ tâm tình và nuôi dưỡng tâm tình. Thí dự như những lời nói, những nụ cười biểu lộ cho người ta biết rằng mình yêu thương người ta, và cũng những lời nói nụ cười đó làm cho tình yêu hạnh phúc giữa vợ chồng người ngày càng lớn lên, thắm thiết hơn. Không có hình thức thì tâm tình sẽ dần dần héo khô, chết dần mòn đi. Hình thức phải đi đôi với tấm lòng bên trong, cũng như niềm tin được biểu lộ qua hành động. Niềm tin không có hành động là niềm tin chết. Chúng ta có thể nhận ra bà goá trong Tin Mừng không phải chỉ có lòng đạo đức và bác ái bên trong, mà bà còn biểu lộ qua việc đến đền thờ, để thờ phượng Chúa, và còn dâng cúng tiền, tuy nhỏ mọn, cho nhà Chúa.

Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin một cách chắc chắn Chúa thấu suốt tận đáy lòng mỗi người: chân thực hay giả dối, hình thức bên ngoài hay tâm tình bên trong, động lực và thái độ của chúng ta. Chúa khen ngợi bà góa nghèo hy sinh dâng hiến tất cả những gì mình có. Xin Chúa dạy chúng ta biết hy sinh, làm những việc đạo đức và bác ái với tất cả tấm lòng chân thành và tình yêu mến Chúa và tha nhân, để những việc chúng ta làm sinh ích lợi thiêng liêng cho chúng ta và tha nhân, và cũng làm sáng danh Chúa.

.

10. TẤT CẢ NHỮNG GÌ BÀ CÓ

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

Suy Niệm

Bài Tin Mừng hôm nay đặt bên nhau hai hình ảnh trái ngược. Một bên là các kinh sư, một bên là một bà góa. Chúng ta được mời gọi nhìn cách hành xử bên ngoài của họ, từ đó thấy được thái độ nội tâm của mỗi bên.

Các kinh sư thuộc về giới lãnh đạo cấp cao của Do thái giáo. Trong một xã hội được chi phối toàn diện bởi Luật Môsê, thì những người giỏi Luật như các kinh sư đóng vai trò rất quan trọng. Họ có nhiều uy tín và ảnh hưởng trên đời sống tinh thần của dân. Chính vì thế không lạ gì nếu có một số kinh sư đã vấp ngã. Một người vừa có tri thức, vừa có quyền lực, dễ bị vấp vào thói háo danh. Đức Giêsu nêu lên một vài nét chấm phá về họ. Trong hội đường, nơi công cộng hay đám tiệc, họ thích mặc áo thụng, thích được chào, thích chỗ cao. Nói chung, họ thích mình trở nên trung tâm chú ý của người khác. Hiểu biết của họ về Lời Chúa sau bao năm học tập lại trở nên phương tiện để họ tìm vinh danh cho mình thay vì cho Chúa. Tệ hơn nữa, họ lại mang bộ mặt đạo đức khi giả vờ đọc kinh dài. Với uy tín và sự giả hình khéo léo, họ nuốt chửng nhà của các bà góa.

Ngược với hình ảnh của một vị kinh sư cao trọng, quyền uy là chuyện một bà góa nghèo bỏ tiền vào hòm dâng cúng. Đức Giêsu cố ý ngồi gần để quan sát người giàu kẻ nghèo bỏ tiền. Ngài muốn dạy các môn đệ một bài học lớn khi gọi họ lại và khẳng định rằng bà góa này đã bỏ nhiều hơn mọi người khác, mặc dù bà chỉ bỏ vào thùng số tiền rất nhỏ. Nhưng cái rất nhỏ này lại là tất cả những gì bà có, tất cả của nuôi thân. Hẳn các môn đệ ngỡ ngàng vì cách đánh giá ấy của Thầy, cũng là cách đánh giá con người của Thiên Chúa. Ngài đánh giá theo tấm lòng, chứ không theo lễ vật. Ngài không mãn nguyện với của dư thừa, nhưng Ngài đòi tất cả. Tất cả của bà góa là hai đồng kẽm, thuộc đơn vị tiền tệ thấp nhất. Hóa ra người túng thiếu cũng có thể dâng chính cái nghèo của mình.

Một kinh sư có học thức, có vai vế và bề ngoài có vẻ đạo đức khác với bà góa cô thân cô thế và túng nghèo, ở chỗ ông quay vào mình, loay hoay với tiếng tăm và lợi nhuận của mình. Còn bà thì quay về phía Thiên Chúa, với thái độ quảng đại, tin tưởng, phó thác và liều lĩnh. Chúng ta ai cũng có hai đồng kẽm. Đừng mặc cảm khi phải bỏ đồng tiền nhỏ nhoi vào hòm tiền, nếu quả thực chúng ta chỉ có hai đồng kẽm.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa.

Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện.

Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,

không một biến cố nào làm xáo trộn,

không một đam mê nào khuấy động hồn con.

Xin cho con đừng quá vui khi thành công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu người con không ưa.

Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét con.

.

11. HAI BÀ GÓA

 Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cao hai bà goá. Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài Sách Các Vua. Chúa Giêsu gặp bà góa trong sân Đền Thờ Giêrusalem. Tiên tri Êlia gặp bà góa ở xứ Serepta. Một bà đã dâng vào thùng tiền Đền thờ hai đồng kẽm và một bà đã cho tiên tri Êlia một chiếc bánh nhỏ.

Thời ngôn sứ Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do Thái để phạt vua tôi của nước này, ngôn sứ Êlia được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarepta. Ở đó ngôn sứ đã gặp một phụ nữ đầy lòng tin cậy vào lời hứa của Chúa. Bà đã dâng chút bột và dầu ít ỏi làm bánh nuôi ngôn sứ. Lương thực còn lại để nuôi sống gia đình, bà đã giúp Êlia. Chúa đã trả công bội hậu cho bà và đứa con trai duy nhất thoát cảnh đói khổ. Một bà góa thời Chúa Giêsu. Gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nghèo nàn nhưng bà đem tất cả số tiền mình có, hai đồng tiền kẽm là những gì bà có để nuôi sống mình. Bà dâng vào đền thờ giữa đám đông nhiều người bỏ nhiều tiền vào hòm tiền. Chúa đã khen bà là bỏ nhiều, dâng cúng nhiều hơn những người giàu khác.

Hai bà góa có một đặc điểm giống nhau. Đó là họ đã dâng cả những gì cần thiết nhất cho cuộc sống của mình và gia đình. Bà góa tại Sarepta dâng nắm bột chút dầu cuối cùng. Bà góa tại đền thờ dâng những đồng tiền cần thiết nhất của mình. Hai bà góa được đề cao có phải vì quà tặng mà họ đã cho không? Hiển nhiên là không. Hai đồng kẽm thì có đáng là bao. Một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì! Thánh Kinh đề cao họ là vì quà tặng ấy tuy nhỏ mọn mà gói ghém cả tấm lòng người dâng. Đồng kẽm của bà goá bỏ vào thùng tiền Đền thờ là cả một tấm lòng của một bà già nghèo, là cả tài sản của bà. Chiếc bánh nhỏ của bà goá xứ Sarepte là cả một cuộc sống của hai mẹ con trong lúc sắp chết đói. 

Của cho không bằng tấm lòng người cho. Cho của mình dư thừa thì chẳng quý gì. Cho cái mình đang cần mới là quý. Và cho cái mình vừa cần vừa tiếc mới là quý nhất. 

Của cho không bằng tấm lòng người cho. Của nhiều mà lòng ít thì không quý cho bằng của ít mà lòng nhiều. Hai bà góa được đề cao là vì lòng yêu mến đối với người của Chúa và đối với nhà của Chúa. Họ được đề cao nhờ lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu mến đã làm cho những hành động của hai bà góa có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa. Và chính Chúa đã lên tiếng ca ngợi các bà. Chúa khen bà góa đã cho nhiều hơn tất cả những người khác đã bỏ tiền vào thùng hôm đó. Vì những người kia đã cho cái mà họ dư thừa, còn bà goá này cho tất cả tài sản của bà. 

Biết bao người giàu có quý phái sang trọng bỏ tiền vào đền thờ, nhưng Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen bà góa và cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, nhưng dưới mắt Chúa Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì bà đã bỏ tất cả. Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. 

Lối đánh giá của Chúa Giêsu đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác. Có khi chúng ta ca ngợi một người chỉ vì người ấy đã có những đóng góp lớn lao, đã đem lại những kết quả cụ thể, rõ ràng. Có khi chúng ta chê một người vì người đó kém cỏi, thiếu năng lực. Tiếng khen chê của ta thường dựa trên hiệu quả bề ngoài, và ít đụng đến phần nội tâm sâu thẳm. Lối đánh giá của Chúa Giêsu cũng đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về chính mình.Tôi xao xuyến khi bị chê, tự mãn khi được khen. Tôi quá trọng dư luận đến nỗi trở nên nô lệ cho dư luận. Thật ra tôi cần đánh giá mình dựa trên cái nhìn của Chúa. Chúa thấy tôi thế nào thì tôi là thế ấy. Điều quan trọng khiến tôi bận tâm đó là tôi có dâng tất cả bản thân cho Chúa không, chẳng giữ lại gì cho mình, dù chỉ một xu nhỏ. Cần rất nhiều liều lĩnh khi bỏ nốt đồng xu cuối cùng để thực sự trở nên người tín thác trọn vẹn vào Chúa. (Mana).

Việc từ thiện, việc đạo đức, nếu không có lòng yêu mến thì chỉ là phương tiện tìm danh giá và tìm lợi nhuận. Hạng người như thế ở thời đại nào và ở đâu cũng có với những cách thức khác nhau. Họ là tỷ phú hay triệu phú, họ bỏ ra một vài triệu để đóng góp vào công việc từ thiện hay xây cất những công trình công cộng với động lực chính là mua tiếng tăm.

Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, mà là với cả tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là của cho quý hóa nhất. Yêu mến thì phải cho. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất. Bà góa đã cho nhiều nhất vì đã cho cả tấm lòng. Xét về số lượng khách quan thì số tiền một phần tư xu so với năm, ba chục ngàn hoặc từng mấy trăm ngàn hay một triệu thì thật mỉa mai, thật tức cười. Nhưng với Chúa Giêsu hai đồng tiền nhỏ của người phụ nữ vô danh lại nhiều hơn hết. Điều có nghĩa là những công việc đạo đức và từ thiện, bác ái hơn nhau ở động lực và lý do hay mục đích chứ không phải ở số lượng. Giá trị của việc dâng cúng, việc bác ái không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh.MẹTêrêsa Calcutta nói: ”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.Thiên Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Ai không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng. Chính lúc cho đi là lúc lãnh nhận. Câu chuyện “Một ly sữa” như một chứng từ minh họa cho chân lý ấy.

Trước đây, có một cậu bé nghèo bán hàng rong để kiếm tiền đi học. Một hôm cậu không có được một đồng bạc dính túi mà bụng thì đói.

Cậu quyết định sẽ đến xin ăn tại căn nhà gần đó. Tuy nhiên, khi một cô gái trong nhà ra mở cửa thì cậu ngại quá nên thay vì xin ăn, cậu xin một ly nước lã! Cô gái nhìn thấy dáng vẻ của cậu thì biết rằng cậu đang đói, nên đem cho cậu một ly sữa lớn. Cậu uống chậm rãi, rồi hỏi: “Tôi phải trả bao nhiêu tiền?” Cô gái cười nhẹ và trả lời: “Cậu chẳng phải trả gì cả. Mẹ chúng tôi dạy rằng không bao giờ nhận tiền công khi làm một hành vi tử tế!” Cậu bé nói: “Vậy thế thì…tôi hết lòng cám ơn cô.”

Khi cậu rời ngôi nhà ấy thì chẳng những cậu cảm thấy thân thể mình khỏe mạnh hơn, mà lòng tin vào Thiên Chúa và con người cũng tăng mạnh thêm lên. Cậu từng nghĩ rằng cuộc đời mình khổ cực quá nên nhiều lần có ý muốn bỏ học.

Nhiều năm sau, cô gái ấy trở thành một phụ nữ và mắc bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ gần như bó tay. Cuối cùng họ gửi cô đến một thành phố lớn để mong tìm những chuyên viên chữa trị căn bệnh lạ của cô. Bác sĩ Howard Kelly được mời đến để chẩn bệnh. Khi nghe nói đến tên thành phố cũ của mình, mắt ông ánh lên một cách lạ lùng. Ông đứng dậy ngay để xuống phòng khám. Trong chiếc áo trắng của bác sĩ, ông đến gặp và nhận ra cô ngay. Ông trở về phòng khám và quyết tâm chữa cứu người phụ nữ ấy cho bằng được. Kể từ ngày hôm đó, ông nghiên cứu và theo dõi kỹ tình trạng sức khoẻ của cô. Sau những ngày cam go, căn bệnh đã thua cuộc.

Bác sĩ yêu cầu phòng tài chánh chuyển hoá đơn tính tiền viện phí của cô để cho ông phê trước. Ông nhìn vào tờ hóa đơn, rồi ghi vài chữ bên lề trước khi gửi đến cho cô. Cô rất sợ phải mở tờ hóa đơn ấy ra, vì cô biết rằng cô sẽ trả món nợ ấy suốt cả đời mình. Cuối cùng, cô cũng phải nhìn xuống hoá đơn và dừng lại để ý đến hàng chữ bên lề. Cô đọc thấy: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!” Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly. 

Mắt cô đẫm lệ vì vui mừng và từ trái tim ngập tràn hạnh phúc vươn lên lời nguyện cầu: “Tạ ơn Chúa! Chính Tình Yêu của Chúa đã lan truyền sang quả tim và bàn tay của con người.”

Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa trong cơn đói đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, ông đã từng là một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895 chính ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, trường Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ dành cho việc nghiên cứu y khoa, được thiết lập năm 1876, tại Baltimore, Maryland.

Bạn, có bao giờ trong cơn đói bạn đã nhận được một hành vi tử tế, và bạn đã đền đáp thế nào với cuộc đời và con người đã tử tế với bạn? Hoặc bạn đã và sẽ làm gì cho một ai đó trong nỗi đói khát tinh thần hay vật chất của một người thân thương hoặc tha nhân Chúa đang gửi đến trong đời?

12. TIN VÀO SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Truyện kể rằng, có một em bé siêng năng học giáo lý và tham dự thánh lễ mỗi ngày. Cha sở gọi em vào nhà xứ để thưởng kẹo cho em. Khi ngài mở ngăn kéo ra với nhiều loại kẹo thơm ngon, em bé đã rất thích. Cha sở nói với em : Cha thưởng cho con một bốc bánh kẹo, con thích loại nào thì cứ lấy. Dù đang rất thèm, nhưng em vẫn chần chừ không lấy. Cha sở hỏi : Con có thích kẹo không ? Em bé trả lời : Thưa cha, con rất thích. Vậy sao con không lấy đi ? Em bé trả lời : Con muốn cha lấy cho con. Cha ngạc nhiên hỏi lại : Tại sao vậy ? Em bé trả lời : Vì tay cha to hơn.
Câu chuyện có vẻ vui, vì em bé đã thấy rằng, bàn tay của cha sở to hơn sẽ lấy cho em nhiều kẹo hơn là em tự lấy. Câu chuyện này cũng giúp chúng ta suy ra rằng : Bàn tay của Thiên Chúa thì to hơn bàn tay của con người và sự quảng đại của Thiên Chúa thì vô cùng lớn hơn sự quảng đại của con người, chỉ có điều chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
Sách các vua kể lại câu chuyện về lòng quảng đại của bà goá thành Sarepta thời tiên tri Elia. Lúc ấy, cả đất nước rơi vào cảnh hạn hán. Tiên tri Elia chạy trốn sự truy sát của hoàng hậu Zezabel vì ông bị cho là người gây ra hạn hán. Ông đến Sarepta và thấy một bà goá đang nhặt củi. Ông mở lời xin bà : Bà làm ơn cho tôi xin một chút nước và làm ơn đem thêm cho tôi một miếng bánh. Lời yêu cầu của ông rất đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh hạn hán đói kém, thì việc xin một bình nước và một miếng bánh là xin cả một bữa ăn. Đối với bà goá nghèo này, một bữa ăn đối với gia đình bà quả là rất quý. Bà góa đã thú thật với vị tiên tri về hoàn cảnh đói khổ của mình: Thưa thật với ông, tôi không có sẵn bánh ; tôi chỉ còn một nắm bột và một chút dầu, chỉ đủ làm một cái bánh cho hai mẹ con tôi ăn rồi chết.
Vị tiên tri đã đặt bà goá này vào thế phải chọn lựa : hoặc là vị khách, hoặc là mạng sống con mình. Tiên tri trấn an : Bà đừng sợ, bà cứ lấy những thứ đó làm cho tôi một cái bánh nhỏ và đem ra đây, rồi sau đó sẽ làm cho bà và con bà. Vị tiên tri còn hứa : Thiên Chúa của Israel phán thế này : Hũ bột sẽ không cạn, bình dầu sẽ không vơi, cho đến ngày Chúa cho mưa rơi trên mặt đất. Trước lời yêu cầu của vị khách lạ, bà đã tin vào lời của ông và cũng tin vào lời hứa của Thiên Chúa Israel. Bà đã về và làm như vị tiên tri dạy. Thiên Chúa đã thực hiện phép lạ làm cho bình dầu của bà không cạn, hũ bột không vơi. Thiên Chúa đã đáp lại lòng tin và sự quảng đại của bà, đã cứu sống mẹ con bà qua cơn đói kém vì bà đã quảng đại với người của Thiên Chúa.
Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của con người. Ngài yêu thích những con người rộng tay rộng lòng với Ngài, tin tưởng và dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu cảnh báo đám đông, đừng để mình rơi vào lối sống phô trương của người luật sĩ và biệt phái. Những người này chỉ chuộng hình thức bên ngoài, phô trương áo mão và phô trương công trạng của mình. Tất cả những việc họ làm đều muốn để cho người đời khen ngợi hơn là vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Họ làm phúc bố thí là để người đời ca tụng, ghi tên ghi tuổi vào bảng vàng bia đá.
Chúa Giêsu đã không muốn lối sống như vậy. Ngài muốn mỗi người đến với Chúa bằng cả tấm lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông. Vì thế, khi nhìn thấy nhiều người giàu có bỏ nhiều tiền vào đền thờ, Chúa Giêsu không nói gì, nhưng khi thấy một bà goá bỏ vào hòm tiền chỉ hai đồng kẽm, Chúa cho rằng bà đã bỏ vào đó nhiều hơn hết. Chúa giải thích : Những người khác bỏ tiền vào đền thờ, họ mong tìm lại được sự ca ngợi. Họ bỏ vào đó những của dư thừa, hoặc những đồng tiền lời bất chính. Còn bà goá này bỏ vào hòm chỉ hai đồng kẽm, nhưng cùng với hai đồng kẽm, bà đã bỏ vào đó cả lòng tin tưởng, yêu mến và tương lai, cuộc sống của bà.
Trong xã hội Do Thái, phụ nữ góa bụa không có địa vị, không tài sản đất đai, họ hoàn toàn sống lệ thuộc vào con cháu của mình, nên hầu hết họ là những người nghèo, đáng thương. Tuy nhiên, trong cái nghèo đói thường xuyên như thế, bà goá trong câu chuyện hôm nay vẫn lặng lẽ bước đến bên hòm tiền, bà không quan tâm đến cuộc sống của bà sẽ ra sao, bà bỏ vào đó cả sự hy sinh, tiết kiệm của bà. Bà bỏ vào thùng cả sự tin tưởng rằng, tương lai của bà, cuộc sống của bà đã có Thiên Chúa lo liệu. Hai đồng xu kẽm đối với người giàu có lẽ không đáng là gì, nhưng đối với bà goá này, hai đồng xu kẽm là cả gia tài sự nghiệp, là cuộc sống ngày mai của bà, bà dành trọn cho Thiên Chúa.
Chúa Giêsu khen bà goá vì tấm lòng quảng đại và sự tin tưởng phó thác của bà. Bà không hề so đo tính toán thiệt hơn với Thiên Chúa, bà cũng không đặt bất cứ điều kiện nào với Thiên Chúa. Bà tin một cách đơn sơ chân thành rằng : bà quảng đại với Thiên Chúa thì Thiên Chúa cũng sẽ quảng đại với bà ; và tất cả những gì bà đang có cũng đều là của Thiên Chúa ban cho, giờ đây, bà dâng tặng lại cho Ngài.
Thiên Chúa là Đấng vô cùng yêu thương và quảng đại với con người. Ngài đã dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và trao tặng nó cho con người. Ngài còn ban cho con người có khả năng trí tuệ và sức lực để làm ra lương thực và của cải nuôi sống bản thân và những người chung quanh. Ngài không hề tính toán thiệt hơn với con người. Ngài đã trao tặng người Con Một duy nhất là Đức Giêsu Kitô cho nhân loại. Đến Con Một yêu dấu, mà Thiên Chúa còn ban tặng cho thế gian, thì Thiên Chúa không còn gì mà Ngài không ban cho chúng ta, chỉ có điều là chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
Thưa OBACE, con người thường chỉ biết nghĩ đến bản thân và hẹp hòi với người khác, nên họ cũng hay nghĩ về Thiên Chúa như thế. Con người không dám sống quảng đại, không dám mở rộng đôi tay, vì họ nghĩ rằng những gì họ có được là do khả năng và sự tài giỏi của họ làm ra, mà quên rằng, nếu Thiên Chúa không ban, họ sẽ không thể có được. Con người thường tham lam thu vén cho bản thân, gia đình vì họ nghĩ rằng của cải tiền bạc sẽ là chỗ dựa an toàn cho họ.
Thế nhưng, bên cạnh đó, vẫn có những người giống như các bà góa Sarepta hoặc như bà goá trong Tin Mừng, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Nhiều người trong họ hết sức quảng đại với Thiên Chúa, với Giáo hội và với anh em. Nhiều người cuộc sống hết sức bấp bênh, thiếu trước hụt sau, nhưng họ vẫn có một tấm lòng rộng rãi. Dù chỉ là những đồng tiền nhỏ họ dâng tặng cho Chúa hoặc chia sẻ với mọi người nhưng đó lại là cả tấm lòng chân thành của họ cùng với sự hy sinh, mồ hôi, lao công của mình để trao tặng cho anh em.
Với cuộc sống đa phần còn khó khăn của nhiều người, Chúa vẫn mời gọi chúng ta luôn tin tưởng vào sự quảng đại của Thiên Chúa, dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài, để biết sống quảng đại với Chúa và với anh chị em. Đừng bao giờ nại vào những khó khăn để khép lòng lại với Thiên Chúa và anh chị em. Vì một khi chúng ta khép lòng lại trước Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ không thể đổ thêm gì vào lòng chúng ta được.
Xã hội ngày nay làm cho con người giàu có, sung túc hơn, nhưng dường như tấm lòng lại nhỏ hẹp hơn. Người đời lấy tiêu chuẩn vật chất, giàu sang để đánh giá nhau. Lối sống ích kỷ khiến nhiều người chỉ biết nghĩ đến bản thân và gia đình. Trước những cám dỗ thu vén tiền bạc của cải, người tín hữu được mời gọi sống quảng đại với Thiên Chúa và rộng lòng với anh em.
Không ai giàu đến nỗi không thiếu thứ gì, cũng không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng. Hãy trao cho nhau sự quảng đại tha thứ, hãy sống với nhau đừng tính toán chi ly nhỏ hẹp, nhưng rộng lòng, rộng lượng với nhau. Hãy trao cho nhau mỗi ngày một nụ cười yêu thương, hãy tặng cho nhau những cái nhìn thông cảm, vì có thể từ một nụ cười, từ một cái nhìn như thế, cũng đủ để tăng sức mạnh cho anh chị em mình chỗi dậy. Amen.

 

13. SẺ CHIA TẬN TÌNH

Huệ Minh

Từ những ngày còn bé, đi học giáo lý, tôi được nghe kể câu chuyện “hũ dầu không cạn, bình dầu không vơi” được trích trong sách các Vua quyển thứ I.

Hôm nay, tôi được nghe lại câu chuyện hấp dẫn này : Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: “Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống”. Ðương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: “Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh”.

Bà thưa: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi”.

Êlia trả lời bà rằng: “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất'”.

Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.

Nghe câu chuyện này và rồi dường như câu chuyện này trở thành câu chuyện nằm lòng trong đời bởi đơn giản tính nhân văn của câu chuyện. Rất dễ hiểu và bình dân, chẳng cần chú giải Thánh Kinh, Thần Học hay Triết Học để ai ai cũng thấy đó là câu chuyện kể về sự quảng đại hay nói cách khác tấm lòng sẻ chia của bà quá thành Sarephta. Chính lòng của bà đã được bù đắp cho bà bằng bình dầu không cạn và hũ bột không vơi.

Câu chuyện sẻ chia của bà góa nghèo ngày hôm nay ta lại bắt gặp trong câu chuyện của Thánh Máccô . Thánh Máccô tính ra cũng nhiều chuyện khi soi Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu lại ngồi ngay cái hòm tiền và lại soi bà góa. Chúa Giêsu soi bà góa còn thánh Máccô thì soi Chúa Giêsu.

Qua cách soi của mình, Chúa Giêsu bắt gặp hình ảnh hết sức dễ thương của bà góa khi Ngài ngồi đối diện với hòm tiền. Vì sou nên thấy dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền.

Đang soi như thế thì chợt thấy có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu.

Soi xong rồi thôi, không chịu, soi xong rồi Chúa Giêsu liền gọi các môn đệ và bảo: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình”.

Một bài học của sự sẻ chia trong cuộc sống. Tưởng chừng đơn giản nhưng nó rất quan trọng bởi lẽ con người vẫn mang trong mình cái bản tính của khư khư, của ky cóp. của tích lũy.

Nhớ lại những ngày xưa tháng cũ thật dễ thương và nhớ đến những ngày xưa đó ta lại nhận ra tình Chúa, tình người với nhau.

Những năm tháng sống thời bao cấp, ta thấy dễ thương quá ! Có khi là nồi khoai mì luộc đó được chia luôn cho cả hàng xóm vì lẽ nhà cạnh bên cũng khổ, cũng đói. Rồi nhớ ngày xưa hay cúp nước, nhà nào được nguồn nước mạnh chảy vào hồ thì lại sẻ chia cho nhà cạnh bên bị thiếu nước. Những hình ảnh của sự sẻ chia đó vẫn còn mãi trong tâm trí tôi cho đến ngày hôm nay.

Còn ngày hôm nay, khi nhìn lại thực tại của cuộc sống, dường như có cái gì đó man mác buồn. Buồn bởi lẽ ngày hôm nay con người ta ích kỷ hơn, con người ta khép kín hơn, con người ta vun vén hơn.

Ngày nay, ta không phủ nhận cuộc sống tốt hơn, giàu hơn, sang hơn, đẹp hơn nhưng rồi con người ta lại ích kỷ hơn. Sự sẻ chia, dù ở thời nào đi chăng nữa vẫn là lời mời gọi, vẫn là lời thách thức của mỗi người chúng ta.

Nói như thế không phải là không còn những tấm lòng quảng đại, những tâm hồn sẻ chia. Thi thoảng đi ngang qua các bệnh viện vào giờ ăn sáng, trưa, chiều … thấp thoáng ta vẫn thấy những hàng dài được xếp để chờ lãnh phần ăn từ thiện có khi là cháo, có khi là cơm và cũng có khi là hộp sữa, cái bánh … Tất cả đó cũng là tấm lòng của những người thơm thảo chia sẻ cho người khác.

Lần nọ, trên chuyến xe về Sài Gòn, ngồi cạnh bên một chàng trai còn rất trẻ và được anh tâm sự tấm lòng của nhóm anh về sự sẻ chia. Anh nói rằng ngoài giờ đi làm, bạn bè của anh quy tụ lại với nhau để nấu cơm vào ngày 1 và 15 mỗi tháng để chia sẻ với người nghèo. Còn đến dịp Tết và Trung Thu thì nhóm của anh tìm đến những vùng sâu, vùng xa và nghèo để sẻ chia với các em nghèo.

Thế đó, vẫn còn và còn nhiều người, nhiều nhóm quảng đại chia sẻ cho người khác.

Ngày nay, Chúa Giêsu hẳn nhiên không còn ngồi trước hòm tiền để soi sự sẻ chia của ta như Chúa đã từng soi bà góa trong Tin Mừng. Thế nhưng, trong thầm kín, trong sâu thẳm của lòng tin, Chúa lại nhìn lòng của mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta biết bắt chước như bà góa nghèo để chia sẻ cho người khác như Chúa mời gọi. Hơn nữa, khi ta chia sẻ cho người khác nghĩa là ta được nhận niềm vui gấp đôi thậm chí gấp 3 từ sự sẻ chia của ta. Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta vượt qua con người nhỏ nhen ích kỷ của ta mà biết chia sẻ với anh chị em đồng loại. 

14. ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢNG ĐẠI THẬT

Lm. Pet. Lê Thanh Phục

Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, thấu suốt lòng dạ con người, thấu suốt mọi đường đi nước bước của chúng ta. Con người có thể qua mặt nhau, nhưng không thể qua mặt Chúa. Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay nói lên điều đó: đâu là lòng đạo đức giả và đâu là lòng quảng đại thật.

Hai đối tượng được Chúa Giê-su đối chiếu hôm nay là kinh sư và bà góa. Kinh sư là những người chuyên diễn tả mệnh lệnh và thánh chỉ của Chúa liên quan đến dân Israel, họ có tư cách giải thích luật Thiên Chúa và phê phán những ai không giữ luật. Là những người thuộc nhóm đứng đầu dân, họ đụng chạm đến việc thánh thiêng, ăn mặc những trang phục tôn giáo dành riêng cho họ. Thế nhưng họ dùng sứ mạng đó để phô trương phẩm giá của mình qua cách xúng xính trong những bộ áo thụng, thích được người chào ở những nơi công cộng, thích ngồi ghế danh dự trong các cử hành tôn giáo và tại những bữa tiệc. Hình ảnh trái ngược với họ là bà góa nghèo, xem ra chẳng có giá trị gì đối với mọi người, một người không còn sự bao bọc che chở của người chồng, không được luật quan tâm bảo vệ, bé nhỏ, bần cùng, không ai chú ý. Thế nhưng tấm lòng của bà thật tuyệt vời. Chúa cho chúng ta thấy rõ tận sâu thẳm của cõi lòng của họ.

Những người kinh sư chạy theo thói chuộng hư vinh: thích khoe quần áo, thích được chào kính ở những nơi công cộng, thích ngồi chỗ danh dự. Điều đáng lên án hơn là việc bóc lột tài sản của các bà góa và thói đạo đức giả. Họ lợi dụng lòng quảng đại của các bà góa. Lẽ ra các bà góa là những đối tượng được lưu tâm đặc biệt (Đnl 10,18tt; Tv 68,6; Hc 35, 14tt), giúp đỡ các bà góa là một việc thiện hàng đầu (Đnl 14,28tt; 24,17-22; G 29,13; Gc 1,27), bởi họ là những người dễ bị tổn thương nhất, không được hưởng gia sản từ chồng (Ds 27,9-11; 1V 17,8-15; 2V 4,1-7). Bóc lột các bà góa là một tội đặc biệt ghê tởm trước mắt nhà làm luật và các ngôn sứ (Xh 22,21tt; Đnl 27,19; Is 1,23-10,2; Gr 7,6). Ngoài ra, họ làm bộ cầu nguyện lâu giờ để tỏ ra là người đạo đức. Họ che giấu bộ mặt xấu xa của mình dưới mặt nạ đạo đức. Quả thế, từ thói chuộng hư vinh dẫn họ đến thói đạo đức giả, thói đạo đức giả giúp họ dễ dàng ngốn hết tài sản của các bà góa. Họ đã lợi dụng tôn giáo như một phương tiện để đạt được vinh hoa phú quý, chủ yếu dựa trên xương máu của các bà góa là những kẻ không người bảo vệ. Họ đã đi đến tột đỉnh của việc xấu xa nhất. Và đó là điều Chúa Giê-su lên án. 
    
Trái lại, hình ảnh bà góa nghèo giữa những người giàu có đến dâng cúng trong Đền thờ càng làm nổi bật sự nhỏ bé, bần cùng của bà. Bà đến với Chúa bằng cả tấm lòng của mình. Bà dâng cúng tất cả những gì bà có, dù hai đồng kẽm của bà chẳng có giá trị gì đối với mọi người. Bà là người môn đệ đích thực mà Chúa muốn: từ bỏ tất cả mọi sự, bán tất cả của cải mình có.

Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy đặt mình trước mặt Chúa, hãy để Lời Chúa hôm nay soi dọi cõi lòng mình, để lên án lối sống của mình.

Chắc chắn ai trong chúng ta đều có bóng dáng của người kinh sư. Chúng ta không ít lần sử dụng dáng vẻ bên ngoài lộng lẫy, đặc biệt dáng vẻ đạo đức thánh thiện, nhằm che lấp những xấu xa bên trong con người mình, hầu tìm hư danh và trục lợi từ người khác, cách riêng những người nghèo và những người thấp cổ bé họng.
Thói chạy theo hư danh, ham muốn của cải luôn bám sát con người. Con người luôn bị cám dỗ chạy theo và tìm kiếm những thứ đó. Tệ hại hơn là khi chúng ta dựa vào tôn giáo để trục lợi của cải và hư danh. Là những ki-tô hữu, những người con cái của Chúa, Chúa cấm chúng ta làm tôi hai chủ, Chúa muốn chúng ta ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính trước, hoặc như thánh Phao-lô mời gọi: hướng lòng lên những gì thuộc thượng giới (Cl 3,2), bởi vì “được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì” (Mt 16,26). 

Chúa Giê-su đến thế gian để cứu độ nhân loại. Ngài kêu gọi con người tội lỗi ăn năn sám hối để đón nhận Tin mừng, để mở lòng ra với Chúa, để đặt mình trong thái độ sẵn sàng đón nhận những phúc lành và ơn cứu độ của Chúa.

Chúng ta được mời gọi ra sức cộng tác với ơn Chúa để thanh luyện con người của mình, đặt mình trong chiều hướng quay về với Chúa, tẩy trừ thói chuộng hư danh và trục lợi của cải vật chất, đến với Chúa bằng tấm lòng thành, đóng góp cho nhà Chúa tùy theo khả năng, hầu mỗi ngày chúng ta thanh thản bước theo làm môn đệ Chúa, xứng danh là ki-tô hữu hơn, xứng danh là con cái Chúa hơn, xứng với tình yêu và lòng mong đợi của Chúa hơn.

15. ĐỂ “CỦA CHO” NÊN LỄ DÂNG ĐẸP LÒNG CHÚA

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1.TIN MỪNG: Mc 12,38-44

(38) Trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. (39) Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. (40) Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”. (41) Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào hòm đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. (42) Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma. (43) Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. (44) Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống.

2.Ý CHÍNH: Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần tương ứng với hai hạng người tiêu biểu trong đạo Do thái là giới kinh sư và giới bà góa nghèo như sau: Trước hết, Đức Giê-su khiển trách thói đạo đức giả của các kinh sư Do thái, biểu lộ qua 4 thói xấu như: ăn mặc đài các, tìm kiếm hư danh, tranh giành địa vị, đạo đức vụ lợi. Sau đó, Người đề cao lòng đạo đức của một bà góa nghèo, biểu lộ qua việc dâng cúng tiền bạc vào Đền Thờ. Tuy số tiền bà dâng không bao nhiêu, nhưng nhờ có lòng hy sinh, nên bà đã được Đức Giê-su đánh giá là đã bỏ vào thùng nhiều hơn mọi người.

3.CHÚ THÍCH:

– C 38: + “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư”: Đức Giê-su cảnh giác dân chúng coi chừng kẻo bị lây nhiễm các thói xấu của các kinh sư hay luật sĩ. + xúng xính trong bộ áo thụng: Áo thụng là loại áo choàng dài chấm đất mà các tư tế thường xử dụng khi làm việc tế tự. Người Do thái thường tỏ lòng tôn kính đối với các tư tế. Các kinh sư cũng thích mặc loại áo này để tỏ ra mình có lòng đạo đức và cũng mong được dân chúng kính trọng như vậy. Đây là thói xấu kiêu ngạo, tự cao tự đại (x. Mt 23,5). + thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng: Người Do thái hay chào hỏi các kinh sư, là những người giải thích Kinh Thánh tại các hội đường vào ngày Sa-bát. Danh hiệu “ráp-bi” có nghĩa là “đại nhân của tôi”, được dùng để xưng hô khi nói chuyện với các kinh sư. Vì muốn được chào hỏi tôn kính, nên các ông thích đi đi lại lại ở nơi có nhiều người để được thiên hạ bái chào. Đây là thói xấu ham mê danh vọng.

– C 39-40: + chiếm ghế danh dự trong hội đường: Tại mỗi hội đường Do thái đều có một chiếc ghế danh dự đặt trước tủ đựng kinh sách. Đối diện với cộng đoàn là chỗ dành cho những bậc vị vọng. Ai ngồi ở đây thì không bị che khuất và mọi người trong hội đường có thể nhìn thấy họ. Các kinh sư vốn tự cao nên thích ngồi ở hàng ghế danh dự này. Đây là thói xấu ham mê chức quyền. + thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc: Tại đám tiệc của người Do thái, vị trí chỗ ngồi được xếp đặt rõ ràng. Chỗ danh dự nhất là ở bên phải gia chủ. Chỗ thứ hai là bên trái, và tiếp tục như vậy từ phải sang trái chung quanh bàn ăn. Người ta dễ dàng nhận ra thứ bậc của người khách, căn cứ vào chỗ ngồi được gia chủ sắp xếp cho họ trong bữa tiệc. + nuốt hết tài sản của các bà góa: Các bà góa thường thiếu hiểu biết, nhẹ dạ nên được xếp vào hạng người cần được quan tâm giúp đỡ (x. Đnl 24,17.19). Mỗi khi bị bắt nạt chèn ép, các bà góa thường cậy nhờ các kinh sư bênh vực. Đây là cơ hội thuận tiện để một số phần tử xấu trong hàng ngũ kinh sư lợi dụng làm tiền, bằng cách chỉ vẽ Lề luật và hứa cầu nguyện cho. + làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ: Việc các kinh sư và người biệt phái hay cầu nguyện dài dòng thì ai cũng rõ. Người ta bảo rằng: Những bài cầu nguyện ấy không nhằm dâng lên Thiên Chúa tâm tình yêu mến mà chỉ nhằm phô trương công đức trước mặt người đời. Do đó, họ cố tình cầu nguyện tại ngã ba đường, nơi mà người ta dễ thấy mà ca tụng lòng đạo đức của họ. + họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn: Luật Môsê coi việc xử tệ với các người cô thế cô thân, trong đó có các bà góa là một trọng tội và sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc (x. Xh 22,21-23). Đức Giê-su cho biết: Những hành vi này của các kinh sư chỉ là hình thức đạo đức giả và vụ lợi, nên họ sẽ bị kết án nghiêm khắc trong ngày tận thế.

C 41-42: + Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao: Giữa sân dành cho dân ngoại và sân dành cho phụ nữ là cửa Đẹp. Đức Giê-su đã đến ngồi tại đó sau khi đã tranh luận trong sân dành cho dân ngoại và tại hành lang Đền Thờ. Trong sân dành cho phụ nữ có đặt mười ba thùng đựng tiền của dân chúng tự nguyện đóng góp, dùng để làm bánh tế lễ, mua dầu đèn và các chi phí khác.+ bà góa nghèo: Một thân phận đáng thương vì bị cô thế cô thân không nơi nương tựa, nhất là còn nghèo tiền bạc vật chất. + hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma: Đây là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất, ám chỉ sự nghèo khó cùng cực của bà này. Sở dĩ tác giả chú thích hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma là nhằm giúp các độc giả La-Hy thời bấy giờ dễ hiểu hơn. Ở đây Mác-cô muốn nhấn mạnh đến sự tương phản giữa hai số tiền dâng cúng của hạng người giàu và kẻ nghèo hèn.

C 43-44: + Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết: Nhiều hơn ai hết là theo cách đánh giá của Đức Giê-su khi xét theo tỷ lệ giữa số tiền bà dâng cúng với tài sản của bà. Bà đã dâng ngay cả những cái cần cho cuợc sống hằng ngày, giống như lời Đức Chúa nói với ngôn sứ Sa-mu-en khi ra lệnh cho ông xức dầu phong Đa-vít lên làm vua thay thế vua Sa-un: “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 15,7). + mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa: Của dư thừa ám chỉ sự dâng cúng kém giá trị, vì “của nhiều lòng ít”. + còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình: Bà “của ít lòng nhiều”: Tuy tiền dâng ít nhưng kèm hy sinh bản thân nên đã tăng giá trị lên nhiều lần.

  1. CÂU HỎI:

1) Đức Giê-su đã quở trách bọn kinh sư và biệt phái về các thói xấu nào?

2) Người đánh giá thế nào về hai đồng tiền kẽm mà bà góa nghèo đã dâng trong Đền thờ? Tại sao?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: Thầy bảo thật anh em: “Bà góa nghèo đã bỏ thùng nhiều hơn ai hết”(Mc 12,43).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) LÀM VIỆC BÁC ÁI ĐỂ TÌM HƯ DANH:

Một bà nọ là thành viên của một hội đoàn đạo đức chuyên đi làm công tác bác ái xã hội. Một hôm, bà nhận được giấy mời đến dự buổi họp mặt bất thường để quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai lũ lụt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bà dự tính kỳ họp này sẽ tình nguyện đóng góp số tiền một triệu đồng. Nhưng trong buổi họp, khi thấy có nhiều Hội viên khác cũng đóng góp số tiền một triệu ngang bằng với mình, bà muốn tỏ ra quảng đại hơn người, nên khi tới phiên, bà đã ghi vào sổ vàng cứu trợ số tiền hai triệu đồng. Rồi thay vì rút bao thư chứa hai triệu, thì bà lại rút nhầm bao thư trong đó có số tiền hai trăm USD tương đương năm triệu đồng mà bà định mang đi mừng đám cưới con trai của bà bạn thân đã từng giúp đỡ bà rất nhiều ngay sau buổi họp mặt hôm đó. Khi phát hiện ra đã đưa lộn phong bì, bà muốn đến bàn thu ngân xin lại số tiền đã góp dư kia, nhưng lại sợ bị mất thể diện trước mặt người khác. Cuối cùng bà đành chịu vậy, nhưng tự trách mình đã bất cẩn không kiểm tra phong bì trước khi nộp cho thủ quỹ. Nhiều ngày sau đó bà vẫn luôn cảm thấy tiếc về số tiền đã lỡ ủng hộ thêm ngoài dự tính kia.

2) GÃ BÁN THỊT VÀ LÃO ĂN MÀY:

Kho tàng cổ tích Ảrập có câu chuyện vui như sau: Một gã bán thịt nướng kia rất keo kiệt và khó tính. Một hôm một lão ăn mày từ nơi khác đến ngồi ăn xin bên cạnh quán thịt nướng của gã. Lão ăn mày đói bụng nhìn những miếng thịt nướng trên vỉ sắt đang bốc khói, chỉ biết hít thật sâu để đón nhận mùi thịt thơm bay vào mũi và liên tục nuốt nước miếng vì không có tiền mua thịt. Cuối cùng lão nghĩ ra một kế hay: lão ta móc trong bị ra một miếng bánh mì khô mua từ ban sáng, lẳng lặng đến gần lò than hơ miếng bánh trên vỉ thịt, với hy vọng khói thịt bốc lên sẽ ám vào miếng bánh. Sau đó, lão ta vui vẻ ăn hết miếng bánh đã được ám khói. Coinf gã bán thịt đang ngồi trong quán thấy vậy liền chạy ra túm lấy áo lão ăn mày đòi phải trả tiền. Bấy giờ  lão ăn mày liền nói: “Lão đâu có lấy thịt nướng nào của anh. Khói thịt bay lên đâu phải là thịt”. Gã bán thịt hét lớn: “Khói từ thịt đang nướng bay ra là thuộc về miếng thịt, nên lão ăn bánh có ám khói thịt bay lên cũng phải trả tiền”. Hai người cự cãi không ai nhường ai. Cuối cùng họ đưa nhau ra toà yêu cầu được quan tòa cứu xét. Quan tòa liền truyền cho lão ăn mày lấy ra một đồng tiền cắc ném mạnh xuống nền nhà phát ra một tiếng “keng”. Rồi quan toà phán quyết cho hai người như sau: “Lão ăn mày được quyền hưởng khói bay ra từ miếng thịt, còn anh bán thịt sẽ hưởng tiếng “keng” phát ra từ  đồng tiền của lão ăn mày”.

  1. THẢO LUẬN:

Trong những ngày này mỗi người chúng ta có thể chia sẻ những gì cụ thể trong tầm tay của mình cho những người nghèo đói bất hạnh và bị bỏ rơi để làm vui lòng Chúa?

  1. SUY NIỆM:

1) Ý chính của bài Tin Mừng hôm nay:

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã lên ái thái độ giả dối của Pharisêu và Người đã dạy các môn đệ phải quảng đại cho đi, noi gương một bà góa nghèo đã dâng hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma, là số tiền nhỏ bé bà dùng để nuôi bản thân mình trong ngày một ngày. Bà đã được Đức Giêsu đánh giá cao việc dâng cúng quảng đại này: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12,43b-44).

Câu chuyện cổ tích Ả rập về anh hàng thịt nướng keo kiệt đói xử không tốt đối với kẻ nghèo nói trên cũng vẫn hay xảy ra trong xã hội hôm nay: Nhiều lần chúng ta đã cư xử với người khác cách keo kiệt tương tự. Việt Nam chúng ta có một câu chuyện vui về một ông bố keo kiệt và tham ăn như sau: Một hôm sau một đêm thức trắng đánh dậm bắt được một giỏ mươi con cá, anh ta về ngồi bên bếp than nướng cá để làm mồi nhậu lai rai một mình. Đứa con trai nhỏ 4 tuổi ngửi thấy mùi thơm của cá liền khóc lóc đòi được ăn cá. Bà mẹ liền dỗ dành cậu con yêu: “Con hãy nín đi để mẹ coi xem có con cá nào nhỏ, mẹ sẽ xin bố cho con ăn nhé!”. Ông bố nghe vậy liền đáp: “Cho cái gì? Không có con cá nào nhỏ cả, con nào cũng to bằng nhau hết !”. Cũng vậy, nhiều lần chúng ta thường né tránh để khỏi giúp đỡ tha nhân bằng câu nói: “Hãy đợi đấy! Khi nào làm ăn khá hơn, tôi sẽ chia sẻ giúp đỡ cho anh”. Nhưng sự chờ đợi ấy sẽ kéo dài mòn mỏi không biết phải chờ đến bao giờ. Người ta có thể nêu ra cả ngàn lý do để biện minh cho thái độ vô cảm, thiếu yêu thương, không muốn giúp đỡ tha nhân của mình.

2) Giá trị của một hành động bác ái từ thiện hệ tại chỗ nào ?

Một việc lành của chúng ta chỉ thực sự tốt khi nó được thực hiện với lòng yêu thương. Câu chuyện về người đàn bà ủng hộ đồng bào bị lũ lụt nói trên: Ban đầu bà đã có quyết định tốt khi dự định bỏ thùng ủng hộ một triệu đồng. Nhưng khi thấy nhiều người khác cũng bỏ vào thùng một triệu như vậy, thì bà liền đã tăng số tiền ủng hộ lên gấp đôi để tỏ ra mình quảng đại hơn người khác. Sau đó việc lỡ rút nhầm bao thơ 200 đôla Mỹ tương đương năm triệu đồng bỏ vào thùng là việc ngoài ý muốn của bà, thể hiện qua việc bà tiếc nuối muốn đòi lại số tiền dư ra kia, nhưng rồi cũng do thói sĩ diện hão, cuối cùng bà đành phải chấp nhận số tiền bỏ thùng lớn gấp nhiều lần. Số tiền bà góp này cũng không có giá trị bao nhiêu về thiêng liêng khi ra trước tòa Chúa phán xét sau này vì không phát xuất từ tình yêu tha nhân.

3) Về ba loại người cho và bậc thang giá trị của ba cách cho:

+ Một là người cho cách bất đắc dĩ: Do muốn tránh bị quấy rầy, nên dù có cho mà trong lòng người cho vẫn thấy bực bội. Loại người này thường phân trần với bạn bè: “Mình ghét hắn ta, nhưng đành phải “thí” cho hắn ít tiền còm cho xong, để hắn mau biến đi khuất mắt!”.

+ Hai là người cho để xong việc bổn phận: Loại người cho này dù đã cho đi mà vẫn không thấy vui. Họ thường nói với bạn bè: “Mình bị rơi vào hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan” : “Bỏ thì thương mà vương thì tội!” Thôi thì đành giúp đỡ hắn cho xong của nợ ! ”.

+ Ba là cho vì yêu thương: Do tự nguyện cho người nghèo nên trong lòng người cho sẽ  cảm thấy vui vẻ. Trường hợp người được cho vì một lý do nào đó không nhận, thì người cho sẽ thấy buồn trong lòng. Loại người cho này thường hay nói với những người đau khổ  bất hạnh: “Tôi có thể giúp gì được cho bạn?” hoặc: “Tôi sẵn sàng chia sẻ những khó khăn bạn đang gặp phải”. Cách cho thứ ba do này mới đẹp lòng Chúa và chúng ta cần thực hiện mỗi ngày, để của lễ chúng ta dâng sẽ bay lên trước tôn nhan Thiên Chúa và mang lại hạnh phúc cho chúng ta.

4) Thực tập lối sống quảng đại sẵn sàng cho đi noi gương Chúa Cha:

Thiên Chúa là Cha chúng ta đã biểu lộ tình yêu quảng đại để nêu gương cho chúng ta:

+ Chúng ta chỉ cần một bông hoa, mà Người lại ban cho cả cánh rừng.

+ Chúng ta chỉ xin vài ngụm nước, mà Người lại ban cả dòng suối.

+ Chúng ta chỉ cần vài hạt cát, mà Người lại cho cả bãi biển rộng dài.

+ Chúng ta chỉ xin ban lương thực hàng ngày, mà Người còn cho cả Thân Mình Bửu Huyết của Người.

Chúa Giêsu phán: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Mỗi ngày chúng ta nên thực hiện một số việc quảng đại như PHĂNGSÍT BANPHUA (Francis Balfour) đã liệt kê một số việc cụ thể người tín hữu chúng ta nên thực hiện như sau:

+ “Món quà đẹp nhất tặng cho kẻ thù ghét ta là lòng khoan dung tha thứ,

+ Quà tặng cho bạn bè là thái độ luôn trung tín và chân thành,

+ Quà cho các em nhỏ là gương sáng bác ái và khiêm nhường phục vụ,

+ Quà tặng cho người cha trong gia đình là thái độ tôn kính vâng lời người dạy,

+ Quà cho bà mẹ là trái tim cháy lửa yêu thương và sẵn sàng chia sẻ các việc nội trợ,

+ Và cuối cùng, quà cho mọi người chung quanh là nụ cười thân thiện kèm theo cái bắt tay thân ái, một lời khen thành thật, cùng thái độ quan tâm lắng nghe và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ noi gương Đức Giê-su”.

  1. NGUYỆN CẦU

– Lạy Chúa Giê-su. Cách đánh giá của Chúa trong Tin Mừng hôm nay khác hẳn cách nhìn nhận sự việc của chúng con. Vì “Loài người thì nhìn mặt, còn Chúa lại nhìn lòng!” (1 Sm 16,7). Chúa khen bà góa nghèo đã bỏ tiền dâng cúng nhiều hơn ai hết. Dù số tiền của bà nhỏ bé, nhưng bà “đã dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống mình” do lòng mến Chúa thôi thúc, nên hành động ấy đã được Chúa đánh giá cao hơn người khác: “Bà đã bỏ thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43). Về phần chúng con: Nhiều khi chúng con dễ nản lòng không muốn làm việc tốt, khi việc chúng con làm không được mấy người biết đến và khen ngợi… Xin Chúa thanh luyện ý hướng các việc lành của chúng con. Chúng con tin rằng: “Hữu xạ tự nhiên hương” (x. Mt 6,1-4), nếu công việc chúng con làm thực sự tốt thì sớm muộn cũng sẽ được người đời nhận biết và ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa là Cha chúng con (x. Mt 5,14-16).

– Hát bài Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân…” để xin Chúa giúp ta kiến tạo hòa bình bằng việc hăng say phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.

X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

16. BÀ GÓA NGHÈO

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

  1. Bệnh sống theo vẻ bề ngoài

Đức Giê-su mời gọi mọi người và nhất là mời gọi các môn đệ của Người, trong đó có chúng ta hôm nay, đừng sống theo cách sống của các ông kinh sư:

Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ.

(c. 38-40)

Lời của Đức Giê-su chứa đựng hai lời cảnh báo đụng chạm sâu xa đến cách sống của chúng ta trong tương quan với người khác và với chính Chúa. Trước hết, đó là sự không tương hợp giữa việc đọc kinh cầu nguyện và tương quan của chúng ta với các “bà góa”. “Bà góa” là bà góa thực sự, và ở mọi nơi và mọi thời, đều có các bà gòa; nhưng “bà góa” còn là biểu tượng nói về tất cả những người nhỏ bé, giới hạn, kém may mắn, ít khả năng, nghèo khó, bị bỏ rơi, cô đơn, không có địa vị. Đức Giê-su đặc biệt quan tâm đến các bà góa, chẳng hạn bà góa nghèo trong bài Tin Mừng của chúng ta, “bà góa” hiểu theo cả hai nghĩa. Chắc chắn là vì, Mẹ của Người cũng là một bà góa!

Lời cảnh báo thứ hai, là thái độ tìm kiếm và cảm thấy thích thú với những lời tôn vinh của người khác ngang qua lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất. Đó không phải là vì lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất là xấu, nhưng là thái độ tìm kiếm bằng mọi giá và cảm thấy vui thích trong những điều này; và mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm, cách sống này là mảnh đất mầu mở của những điều thuộc về ma quỉ: ham muốn, ghen tị, ganh đua, loại trừ, thậm chí bạo lực…

Tóm lại, các kinh sư là những người, không chỉ sống theo vẻ bề ngoài, nhưng còn đi tìm và thích thú với vẻ bề ngoài. Và ngang qua việc vạch rõ lối cụ thể của một nhóm người, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhìn lại chính bản thân mình, để nhận ra rằng, sống theo vẻ bề ngoài ở trong mọi lãnh vực, ở mọi nơi và ở mọi cấp độ, là một căn bệnh phổ biến và nan y của mọi người, trong đó có chính bản thân chúng ta.

 2. Chữa lành bệnh sống theo vẻ bề ngoài

Trong “Bài Giảng Trên Núi,” Đức Giêsu mời gọi chúng ta đừng sống theo vẻ bề ngoài, nhưng sống theo sự thật trong tương quan với chính Thiên Chúa là Cha chúng ta, nhất là khi bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Đó là ba việc đạo đức căn bản trong đời sống đức tin; và chúng ta có thể mở rộng ra tất cả những việc đạo đức khác, và nhất là mở rộng ra cung cách sống căn tính Kitô hữu hay căn tính tu sĩ của chúng ta. Thực vậy, Đức Giê-su nói:

Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh

Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

(Mt 6, 1-18)

Thay vì phô trương, Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức một cách kín đáo. Không phải để thi thố hay nâng cấp đức khiêm nhường, nhưng để trở nên giống Cha của mình là Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi kín đáo và hành động một cách kín đáo. Trong những lời chúng ta vừa trích dẫn, Đức Giêsu dùng tới sáu lần từ “kín đáo”, trong đó 5 lần được dùng để nói về Thiên Chúa Cha: Cha của anh hiện diện nơi kín đáo; Cha của anh thấy trong kín đáo. Như thế, Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu, là “Đấng kín đáo” và Ngài mời gọi chúng ta cũng trở nên “những người con kín đáo” như Cha của mình. Kín đáo là một đặc nét của nữ tính; vì thế, phụ nữ dễ trở nên giống Thiên Chúa, Cha của chúng ta hơn!

Chúng ta cứ nghiệm lại mà xem: Thiên Chúa hiện diện và hành động kín đáo biết bao trong sáng tạo, trong lịch sử loài người, nơi cuộc đời chúng ta và nhất là nơi Thập Giá của Đức Giêsu. Chúng ta phải có ngũ quan biết chiêm ngắm, mới có thể nhận ra Thiên Chúa hiện diện, lên tiếng và hành động.

Đức Giêsu không chỉ chữa bệnh sống theo vẻ bề ngoài của loài người của chúng ta, bằng lời nói, nhưng bằng chính cách sống của Người nữa; như Ngài nói về mình: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng sự sống của mình”. Và phương thuốc tận cùng của Ngài là Thập Giá, nơi đó, vẻ bề ngoài của Ngài không còn là gì nữa: thân xác, danh dự, sự nghiệp, sự sống… Nhưng chính lúc đó Căn Tính đích thật của Ngài lại rạng ngời nhất. Như con rắn đồng xưa, ai nhìn lên Đấng bị đâm thâu, thì sẽ được chữa lành (x. Ds 21, 4-9 và Ga 3, 14-15).

 3. Hình ảnh « Bà Góa Nghèo »

Chúng ta hãy cùng với Đức Giê-su « ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ », và « quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao ». Như thế, thùng tiền hẳn phải đặt ở nơi mà mọi người có thể quan sát được, để cho việc trở nên công khai và minh bạch hơn. Tuy nhiên, như tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm, vị trí thùng tiền được đặt ở nơi công cộng cũng là dịp để người ta phô trương và ganh đua ; và điều này vừa có lợi cho bên nhận cũng như bên cho. Ngày nay, người ta vẫn còn làm những điều tương tự, như công bố danh sách ân nhân với số tiền cụ thể, phát giấy chứng ân nhân với sự phân biệt đẳng cấp khác nhau, tùy theo số tiền dâng cúng. Giống như bằng cấp đại học có phân biệt thứ hạng !

Đức Giê-su nhìn thấy những người giàu bỏ tiền của họ vào thùng tiền ; và ngài cũng thấy một bà góa túng thiếu bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, tương đương với 2 đồng tiền kim loại màu trắng 500 vào những năm 2000 của chúng ta. Các nhà chú giải cho rằng câu chuyện này minh họa cho lời trách của Đức Giê-su, là các luật sĩ tước đoạt hết tài sản của các bà góa, là cơ cấu tôn giáo thời đó đã bắt người ta đóng góp quá sức, đến độ một bà góa không còn gì để sống ! Tuy nhiên, những gì Đức Giê-su nói sau đó, sẽ đi theo một hướng khác hẳn.

Loài người chúng ta, trong vấn đề dâng cúng và cả trong những vấn đề khác nữa, chẳng hạn trong vấn đề lượng giá học tập (không chỉ văn hóa, và cả giáo lý, linh đạo và thần học) và công việc, chỉ chú trọng đến thành tích nhiều ít, cao thấp, to nhỏ, nghĩa là vẻ bề ngoài của sự việc. Nhưng Đức Giê-su nhìn sự việc theo một chiều kích khác, vừa đúng, vừa sâu và vừa đánh động lòng của chúng ta : « bà góa đã bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình ».

  • Lời của Đức Giê-su an ủi chúng ta biết bao, vì tất cả chúng ta đều nhỏ bé, nghèo nàn, giới hạn, như bà góa ; và Chúa chỉ cần tấm lòng của chúng ta thôi.
  • Lời của Ngài cũng chất vấn chúng ta nữa : phải chăng chúng ta sống và xét đoán theo chỉ theo vẻ bề ngoài.
  • Và Lời của ngài mời gọi chúng ta : « Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả ». Xét về số lượng hay nội dung, « tất cả » của chúng ta thì quá nhỏ bé và ít ỏi so với « tất cả » của Chúa ; như xét về tình yêu của trái tim, thì TẤT CẢ = TẤT CẢ, hai bên đều trao ban trọn vẹn như nhau !

Xin cho chúng ta cũng biết bỏ « vào đó » tất cả những gì cần cho sự sống của chúng ta. « Vào đó », là vào ơn gọi và sứ vụ của cả cuộc đời chúng ta ; « vào đó », là vào những gì chúng ta được mời sống hằng ngày ; « vào đó », là vào những gì chúng ta cảm thấy phải sống, phải làm, phải thay đổi, phải hoán cải… trong Chúa và để ca tụng Chúa ; « vào đó » là… (chúng ta có thể nhận ra thêm tùy theo tương quan của chúng ta với Chúa).

Và chỉ khi chúng ta cảm nhận được « muôn ngàn đời tình thương của Chúa » (x. Tv 136), chúng ta mới có thể cho đi như thế được. Và quả thực như thế, Thiên Chúa đã sống đến tận cùng tâm tình của « Bà Góa Nghèo », nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh trên Thánh Giá.

17. LÒNG QUẢNG ĐẠI VÀ TÍN THÁC KHÔNG GIỚI HẠN

Dã Quỳ

Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về hai hình ảnh đối lập: các ông kinh sư và bà góa nghèo. Từ hai hình hình ảnh này, Chúa Giê-su căn dặn ta hãy coi chừng sự giả hình, ưa chiếm hữu danh lợi của các kinh sư và dạy ta quảng đại trao dâng như bà góa nghèo. Lòng quảng đại của bà chứng tỏ một niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng quan phòng đời bà. Thế nhưng giữa một thế giới mà trong đó con người đang tranh giành nhau những vị trí cao nhất ở mọi lãnh vực và hơn thua nhau về địa vị, tài sản…Liệu bài học về Lòng quảng đại tín thác của Chúa đưa ra có lỗi thời không?

Người Việt Nam chúng ta vốn quan niệm:”Một miếng giữa đàng hơn một sàng xó bếp“. Quan niệm ấy cho chúng ta hai suy nghĩ vừa tích cực lẫn tiêu cực. Chiều tích cực là cho thấy sự trọng vọng của mọi người dành cho những người có chức quyền và địa vị trong xã hội ở mọi thời. Sự vinh quang này cũng có thể là động lực giúp cho nhiều người cố gắng vươn lên trong khả năng của mình sao cho bằng người khác. Tuy nhiên mặt trái của sự vinh quang thế gian ấy cũng có thể làm cho chính đương sự nhiễm thói kiêu ngạo, dương dương tự đắc, ưa thích danh vọng  và coi mọi người không ra gì.

Nhưng sông có khúc, người có lúc. Khi có chức có quyền thì phải sống làm sao để khi hết quyền hết chức người ta vẫn kính trọng, quí mến. Cách riêng với những người đang nắm chức vụ trong Giáo Hội, trong các đoàn thể, cộng đoàn… Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ Coi Chừng các ông kinh sư, nhưng có lẽ Chúa cũng thấy trước những cám dỗ mà có thể các đồ đệ của Ngài cũng dễ mắc phải đó là ” Ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự, chỗ nhất…” Và còn tệ hơn: “Chiếm tài sản của các bà góa, làm bộ đọc kinh lâu giờ“. Giáo Hội trong mọi thời đều dễ rơi vào cơn cám dỗ kinh khủng của uy thế, của những độc quyền, những ” bộ áo thụng” và của những chức vị phô trương…của những giả hình, bất công và làm méo mó khuôn mặt của Hội Thánh Chúa.

Thực ra chức vị và quyền hành không phải là một cái gì tội lỗi, đáng sợ hay xấu xa. Vì những người được Chúa yêu thương tuyển chọn, có khả năng, khôn ngoan, nhiệt thành và được tập thể tín nhiệm trao phó trọng trách để phục vụ Chúa và cộng đoàn. Như thế càng phải ý thức cách triệt để như lời sách Huấn Ca nhắn nhủ: ” Càng làm lớn con phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Chúa“.(Hc 3,18) Chúa Giê-su căn dặn và mong muốn tất cả chúng ta sống theo Lời và gương của Người đã sống là quảng đại hiến thân phục vụ Chúa và tha nhân: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Vì Con Người đến…là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người“.(Mc 10,43.45) Chúa muốn ta thay đổi cách sống và thói quen. Linh mục cũng như giáo dân…không đặc quyền, đặc lợi. Một Giáo Hội nghèo và trần trụi, sống trong sự giản dị theo Tin Mừng…không để bị lôi cuốn trong xa hoa, tráng lệ của thế gian.

Một sự tương phản giữa những kinh sư sùng đạo đã ” Nuốt hết tài sản của các bà góa“…và bà góa nghèo này, người đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống“.

Chúa Giêsu đã khâm phục bà bởi vì bà đã bỏ vào thùng tiền dâng cúng “Tất cả những gì bà có để sống“. Sự nghèo khó: đó là tình trạng của người không có những gì cần để sống. Bà góa này đang ở trong tình trạng đó. Bà đã rút từ trong sự túng thiếu của mình, dâng cúng cho Đền Thờ. Hai đồng tiền nhỏ là tài sản duy nhất của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cơ nghiệp  gắn liền với bà, nó sẽ là cơm ăn thuốc uống của bà và là sự sống của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cả một tài sản của thân phận nghèo nàn của bà. Thế mà, không luyến tiếc, bà đã quảng đại dâng cho Thiên Chúa tất cả. Dâng tất cả tài sản nhỏ bé của mình, bà như dâng lên Thiên Chúa tất cả sự sống. Bà phó dâng hiện tại và tương lai trong tay Chúa Quan Phòng. Đời bà thuộc về Chúa, sự sống của bà là của Chúa. Lòng quảng đại ấy biểu lộ một Niềm Tin Tín Thác mãnh liệt vào Thiên Chúa là Chủ sự sống.

Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để giới thiệu cho các ông một mẫu gương cho đi tận tình. Và Chúa cũng mời gọi tôi là con cái Chúa, học gương bà góa, cũng hãy dâng hiến cho Thiên Chúa những gì mình có, vì tất cả những gì tôi có đều do bởi Chúa, như lời Thánh Phao-lô nhắc: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh” ( 1Cr 4,7).

Hình ảnh bà góa dâng tất cả những gì bà có để sống gợi cho tôi bao suy nghĩ và tự vấn. Tôi đã sẵn sàng dâng tâm hồn tôi để trở thành đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị hay chưa? Tôi có dấn thân dâng lên Thiên Chúa cuộc đời tôi để phục vụ cho Tin Mừng và hăng say rao giảng Nước Chúa không? Và tôi đã quảng đại dâng những tài sản vật chất của mình để phục vụ Chúa, xây dựng Giáo Hội và chia sẻ với anh em túng thiếu chưa? Tôi nhận thấy mình kém xa bà góa nghèo, mặc dù tôi không nghèo như bà. Nhiều khi tôi đắn đo tính toán với cả Thiên Chúa và anh chị em mình mà chưa biết quảng đại hiến trao, chưa thật tin tưởng vào bàn tay quan phòng của Chúa và không thật sự tín thác vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói tới bà góa nghèo, tôi nghĩ đến Mẹ Chân Phước Têrêsa Calcutta. Mẹ thật nhỏ bé, nghèo nàn. Mẹ đến Ấn Độ chỉ với hai bàn tay trắng. Tài sản của Mẹ là một trái tim đầy ắp tình yêu phục vụ người nghèo, nhất là những người vô gia cư nằm hấp hối bên lề đường. Mẹ đã quảng đại trao dâng cho Thiên Chúa tất cả và một lòng tín thác vào Chúa để yêu thương phục vụ tha nhân. Đời sống và nghĩa cử yêu thương của Mẹ được cả thế giới biết đến và khâm phục. Và đã gợi hứng cho nhiều người tiếp tục quảng đại dâng hai đồng tiền nhỏ của mình cho Chúa và tha nhân. Vì trong thế giới của chúng ta, còn đó sự chênh lệch về mức sống giữa người với người, giữa nước này với nước kia. Và còn đó biết bao anh chị em nghèo khổ quanh ta cần lắm lòng quảng đại sẻ chia tinh thần và vật chất.

Một đức tin đầy  đức ái và lòng quảng đại sẽ là mẫu sống cho ta. Ta đừng ngại nói ngôn ngữ của lòng quảng đại và đừng sợ tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Chúa Kitô, Đấng đã hiến dâng chính mạng sống mình vì lòng tín thác vào Chúa Cha là khuôn mẫu cho chúng ta. Sự nhiệt tâm và quảng đại của chúng ta được xây nền trên nền quảng đại của Chúa Giêsu- Một Thiên Chúa giàu sang nhưng đã trở nên nghèo để cho ta được giàu có, như lời Thánh Phao-lô  nói với giáo đoàn Cô-rin-tô để khuyến khích họ chia sẻ: ” Quả thật, anh em đã biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.”(2Cr 8,9)

Nguyện xin Chúa Giê-su chia sẻ cho ta lòng quảng đại của Người và ban ơn giúp ta tín thác để rồi ta dám quảng đại với Thiên Chúa và với anh em. Amen. 

18. TÌNH GÓA

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa 

Phải thú nhận rằng có hậu ý khi đặt tựa đề cho bài viết là “tình góa”. Dĩ nhiên ít nhiều cũng có ngụ ý “tiếp thị”. Đã là góa bụa mà còn tình tứ gì nữa! Đã nói đến tình thì ít ai nói đến cảnh góa bụa. Sự đời, người ta thường tránh những điều xúi quẩy. Thế nhưng nhiều hình ảnh người góa bụa lại được Thánh Kinh không chỉ tô hồng mà còn xác nhận là một trong những đối tượng được Thiên Chúa ưu ái và bảo vệ cách đặc biệt bằng những luật lệ cụ thể trong Cựu Ước (x.Xh 22,21; Ed 22,7). Đến thời Tân Ước, chính Chúa Giêsu cũng đã ưu ái bà góa thành Naim có đứa con trai duy nhất bị chết, nên dù không được khẩn xin, Người vẫn ra tay uy quyền cho cậu ta sống lại (x.Lc 7,11-17).

Trong ba bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật XXXII TN B thì bài đọc thứ nhất trích sách các Vua và bài Tin mừng tường thuật và ca tụng nghĩa cử cao đẹp của bà góa thành Xarépta và bà góa tại Giêrusalem. Cả hai đều là những bà góa nghèo nhưng sẵn sàng hiến dâng “phần nuôi sống” mình, cũng là chính sự sống của mình cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Thầm hiểu ngụ ý của Hội Thánh khi cho trích đọc các bài Thánh Kinh trong Chúa nhật này, chúng ta cùng xét suy đôi điều qua cái tâm, cái lòng và cuộc sống của người góa bụa.

  1. Một mối tình thủy chung: Trước hết cần phân biệt người góa bụa với các bà mẹ đơn thân. Hẳn nhiên có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan hình thành tình trạng hay kiểu sống của những bà mẹ đơn thân. Chúng ta không thể tiên thiên “đánh giá – xếp hạng” cho tình trạng sống này vì hình như mỗi hoàn cảnh đều mỗi vẻ khác nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế nhưng phải nhìn nhận rằng đây là tình trạng “không bình thường” theo lẽ tự nhiên mặc dù đã từng có khi, có nơi trở thành một phong trào, một kiểu cách chọn lựa của nhiều phụ nữ thời hiện đại. Trái lại tình cảnh của người góa bụa dù là đàn ông hay đàn bà là chuyện thường tình của kiếp nhân sinh. Đã thề non hẹn biển trong duyên vợ chồng thì luôn mong được song hành cho đến khi đầu bạc răng long. Mong thì vẫn mong, nhưng được chết cùng ngày là điều thật hy hữu. Chuyện tái giá hay đi bước nữa khi người phối ngẫu đã qua đời là chuyện chẳng có gì sai trái, dù phía nữ giới có thể bị dị nghị cách nào đó, đặc biệt trong nhiều xã hội trước đây vốn đề cao đạo “tam tòng – tứ đức”. Dù xưa hay nay thì người ta vẫn trân trọng những mẫu đời “thờ chồng, nuôi con” hoặc tín trung với người bạn quá cố mà nguyện làm cảnh gà trống nuôi con. Chúng ta đừng quên đây là một trong những tiêu chí để chọn người vào hàng Giám Quản hay bậc trợ tá của Giáo Hội thời sơ khai (x.1Tim 3,1-13).

Thủy chung với người bạn đời đang còn sống quả là một nỗ lực bền bỉ không chỉ trong tình yêu mà cả trong sự tiết chế. Chuyện “chả – nem” không riêng gì là chuyện của thời hôm nay mà đã có từ xưa, chỉ khác một điều là mức độ phổ biến, cho dù ai cũng thấy sự sai trái của nó và những hậu quả xấu xa mà nó di hại cho gia đình, cho con cái và cho cả xã hội. Chính vì thế, việc chung thủy với người bạn đời đã khuất càng được trân trọng gấp bội khi tự nguyện từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình vì yêu thương và muốn tín trung trọn vẹn với chỉ một người.

  1. Một tình yêu trao hiến đến cùng: Các nhà tâm lý cũng như các nhà đạo đức vốn đồng thuận với nhau về khái niệm yêu thương là một quá trình trao ban và đón nhận nhau. Yêu thương cách đích thực là tự nguyện trao ban điều tốt, điều tốt nhất của mình cho người mình yêu cách vô điều kiện và không tính toán, đồng thời cũng sẵn sàng đón nhận người mình yêu với tất những gì người ấy “là và có” một cách quảng đại, không so đo. Người ta thấy rõ hai động thái này trong đời hôn nhân. Đức Bênêđíctô XVI đã gọi đó là Eros và Agapê, hai chiều kích của tình yêu này xem ra phản ánh Tình Yêu Thiên Chúa cách rõ nét nhất (TĐ Thiên Chúa là Tình Yêu số 2). Với thời gian, qua các hình thức “mại dâm thánh” cùng với sự ích kỷ hưởng thụ của con người theo sự cám dỗ thần dữ thì chiều kích Eros (đón nhận) đã bị biến dạng, tha hóa. Từ đó chiều kích trao hiến (Agapê) đóng vai trò chủ yếu trong việc biểu lộ tình yêu đích thực.

Với người góa bụa thì cái chiều kích đón nhận xem ra vẫn còn đó qua người con. Nhưng nó sẽ vơi dần theo thời gian khi đứa con đến lúc phải lìa cha mẹ mà luyến ái với người bạn đời (x.Mc 10,7). Cuộc đời của người góa bụa là một chuỗi trao ban, hiến dâng không ngơi nghỉ và ngày càng đến cùng. Chỉ còn chút bột và chút dầu để ăn bữa cuối cùng với đứa con, thế mà bà góa thành Xarépta đã không ngại ngần dâng trao cho ngôn sứ Êlia (x.1 V 17,7-16). Chúa Giêsu đã ngợi khen lòng quảng đại của một bà góa tại đền thờ Giêrusalem khi đã không ngại ngần dâng cúng vào Đền Thờ “ tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân bà” ( Mc 12,44; Lc 21,4 ).

  1. Một tâm hồn nghèo khó thực sự: Lời tung hô tin mừng trong Chúa Nhật này, Giáo Hội cho trích câu tin mừng của thánh Matthêu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người góa bụa là một trong những người nghèo của Thiên Chúa, được Người ưu ái chăm sóc và bảo vệ. Xin đừng quên số người góa bụa trong các xã hội trước đây thì phụ nữ chiếm tuyệt đại đa số. Vì thế khi nói đến người góa bụa là người ta nghĩ ngay đến các bà góa. Một mình nuôi con mà bôn ba cuộc sống thì khó bì được với người ta vẹn đủa cả đôi, nhất là khi sinh kế thời bấy giờ dựa vào sức lao động của cơ bắp là chủ yếu. Do dó người ta không lạ gì khi hạn từ “góa” thường đi đôi với hạn từ “nghèo”. Những người góa bụa, cách riêng các phụ nữ góa chồng không chỉ nghèo về vật chất, của cải, bạc tiền mà họ còn nghèo khó cả về mặt tinh thần. Ngay cả trong thời kỳ gọi là hoàng kim của Giáo hội là thời Giáo hội sơ khai, khi mà những người trong tôn giáo mới này “không ai lấy sự gì làm của riêng, mọi sự đều là của chung” (x.Cvtđ 2,44; 4,32) thế mà các bà góa vẫn đã từng bị đối xử thiếu công bằng, bị bỏ quên (x.Cvtđ  6,1).

Hồng ân Nước Trời là một ân ban trọng đại và nhưng không của Thiên Chúa. Không một ai có thể tự mình chiếm hữu ân ban ấy dựa vào khả năng và công trạng của mình. Chúa Giêsu đã mặc nhiên nói đến chân lý này khi khẳng định rằng người giàu có khó vào Nước Trời, khó hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim. Những gì mà người giàu  cho rằng có thể mua được bằng tiền bạc thì chắc chắn không phải là Nước Trời (x.Lc 18,24-27). Một tâm hồn nghèo khó thực sự thì sẽ có được sự tự do với các thực tại đời này để rồi biết gắn bó mật thiết với Thiên Chúa trong niềm tin. Và họ đã biết mở lòng để đón nhận Nước Trời như là ân ban.

Qua một vài nghĩ suy về “tình góa”, không gì hơn, chỉ thầm mong số phận những người góa bụa được xã hội cũng như Giáo hội quan tâm chăm sóc bằng sự trân trọng như những người nghèo của Thiên Chúa, những con người rực sáng trong tình yêu thủy chung, tình yêu dâng hiến đến cùng.  Có thể nói không sợ sai lầm rằng cuộc đời của nhiều người góa bụa là một dẫn chứng cụ thể, giúp chúng ta biết thế nào là yêu, thế nào là tin.

 

 

 

19. Câu chuyện về người goá phụ _ Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

 

 

Nhiều khi chúng ta muốn giữ đạo một cách thoải mái. Nhưng Lời Chúa hôm nay cảnh giác chúng ta về quan niệm này. Tiên tri Êlia ngày trước đã giữ đạo rất vất vả. Ðức Yêsu trong bài Tin Mừng cũng bảo chúng ta đừng bắt chước các ký lục Dothái, nhưng hãy xem gương người góa phụ dám dâng cúng cả đồng trinh cuối cùng. Và tác giả Hipri cho chúng ta thấy Ðức Yêsu đã trở thành Thượng tế một cách khổ đau như thế nào. Chúng ta cần suy niệm các bài Kinh Thánh hôm nay để đón nhận ơn cứu độ của Chúa muốn đến với chúng ta hằng ngày trong đời sống.

 

1/ Câu chuyệnvề Êlia

Chúng ta đã nói nhiều về Êlia. Ông là tiên tri của Chúa, sống ở thời đất nước Dothái phân đôi. Ông được lệnh nói tiên tri ở miền Bắc, tạm gọi là Israel. Các vua ở đây đi xa đường lối của Thiên Chúa mau lẹ hơn các vua ở Yuđa. Ðặc biệt, vua Omri, nước Israel đã cưới Izabel, công chúa nước Tyr, cho Akhab hoàng tử kế vị ông. Bà này đưa tà giáo vào cung điện, quảng cáo cho thần Baal, một thần được coi như nắm giữ mưa nắng ở trên trời và do đó cả mùa màng dưới mặt đất. Êlia chống đối hoạt động của bà. Có lần ông thách thức phe tà giáo ở núi Camêlô. Câu chuyện thời danh ấy ai ai cũng biết (I Các Vua 18,20-40). Nhưng rồi Izabel đã trả thù, bắn tin sai người bắt Êlia... Nhà tiên tri phải đi ẩn ở trên núi Horeb. Nhưng được thần lương bổ sức, ông lại tiếp tục. Cuộc đời của ông là cuộc đời chiến đấu với tà giáo để bảo vệ độc thần. Và các câu chuyện kể về ông đều ít nhiều nói lên sự phấn đấu này.

Trong đoạn trích sách Các Vua hôm nay cũng vậy. Có rất nhiều yếu tố chiến đấu mà không ý tứ người ta sẽ không dễ nhận ra. Tác giả kể có một góa phụ ở Serepta hôm ấy đi kiếm củi. Êlia thấy bà ta đội một cái bình trên đầu thì tưởng bà ta đi múc nước. Nhưng không, đó là một cái vò đựng một chút bột còn sót lại. Bà ta đi kiếm củi để về nướng chút bột đó lên nuôi sống mình và đứa con đang ở nhà.

Ðó là hình thức văn chương tác giả dùng để nói lên thời kỳ hạn hán và đói kém ở trong dân. Không phải vì Baal không làm mưa cho mùa màng tốt tươi nhưng vì Êlia đã tuyên sấm với Akhab rằng: "Yavê hằng sống! Thiên Chúa của Israel, Ðấng tôi chầu hầu, những năm tới đây sẽ không có sương, cũng không có mưa, trừ phi là thừa lệnh của tôi" (17,1). Tiếp theo đó, tác giả đã mô tả cảnh hạn hán để làm chứng hiệu lực của lời sấm, tức là uy quyền của Yavê và tiên tri của Người. Hơn nữa sự kiện lại xảy ra ở Serepta thuộc dân ngoại. Và điều này làm chứng Yavê cai trị toàn thế giới chứ không riêng gì ở đất Israel. Người thống trị cả những nơi mà người ta bảo là giang sơn của Baal hay của thần nào khác vì tất cả chỉ là ngẫu tượng và duy một mình Yavê là Chúa.

Tác giả lại chọn câu chuyện một góa phụ. Phải chăng ông không có ý chống đối và mỉa mai bà Izabel? Góa phụ kia dễ thương biết bao và bà sẽ được phúc. Còn Izabel? Tác giả để cho độc giả từ đó mà suy.

Ông cho ta thấy Êlia phải xin nước, rồi xin bánh của một góa phụ. Ngày xưa các góa phụ là hình ảnh của những thành phần lam lũ, khổ sở, túng cực trong dân. Thế mà Êlia phải đến xin nước và bánh của một người như thế. Ðời ông không khổ cực và bị dồn vào túng cực sao? Ðiều này muốn nói lên thân phận Người Tôi Tớ Chúa. Họ bị "rạc gáo". Ðời họ còn hơn phong sương vì họ còn bị tầm nã, bắt bớ và giết đi. Dù sao bề ngoài họ cũng chỉ như những chiếc bình sành, tuy bên trong họ mang những kho tàng quý giá. Chính câu chuyện Êlia làm chứng. Ông đang đói khát cho bản thân mình. Nhưng Lời Chúa ông đang mang trong mình có thể làm cho bình bột không hết và bình dầu không cạn. Những ơn này dành để cho người khác. Và ở đây, cho người góa phụ thành Serepta.

Bà được ơn như vậy, mặc dầu bà là dân ngoại và đang sống trên đất của lương dân. Ðiều này làm chứng ơn Chúa không kỳ thị ai. Nhưng mọi kẻ có điều kiện đều có khả năng nhận được. Người là Thiên Chúa của mọi người và muốn thi ân cho hết thảy những ai biết đón nhận.

Người góa phụ thành Serepta không những tỏ ra rất nhân đạo, nhưng nhất là còn tin ở lời vị tiên tri và tin vào Lời Chúa. Chính niềm tin ấy khiến bà dám làm bánh cho nhà tiên tri ăn trước. Bà như quên và như bỏ mạng sống của mẹ con bà vì tin vào lời nhà tiên tri. Và Chúa đã thưởng công lòng tin này, khiến câu chuyện về bà hôm nay đáng được dùng để dẫn nhập vào bài Tin Mừng. Nhưng chúng ta đừng vội đi qua mà không ghi kỹ lấy nhiều bài học thâm thúy của đoạn sách Các Vua.

Không kể những tư tưởng về đạo độc thần và phổ quát, chúng ta hãy nhớ gương Êlia và người góa phụ này. Cả hai đã giữ đạo và sống đạo không dễ dàng. Êlia suốt đời phải chiến đấu; lắm lúc thật rã rời và nhục nhã. Người góa phụ trông cũng tội nghiệp: chỉ còn một chút bột mà cũng phải hy sinh. Nhưng đó là những con người thánh, dám vì lòng tin Chúa mà chịu đựng gian khổ thử thách. Hậu thế không quên được những con người như vậy. Cũng như câu chuyện về người góa phụ trong bài Tin Mừng hôm nay sẽ luôn luôn còn sống động.

2/ Câu chuyện về người góa phụ

Thoạt đầu chúng ta ít thấy có liên lạc giữa các đoạn Ðức Yêsu nói về các ký lục và câu chuyện về bà góa. Thánh Marcô đặt cả hai việc xảy ra trong Ðền thờ. Và có lẽ người đã dùng chữ bà góa trong câu nói về các ký lục: "ngốn cả nhà cửa các bà góa" để chuyển sang câu chuyện bà góa nọ bỏ hai trinh vào hòm tiền cúng. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhìn ra một liên lạc về ý tưởng. Phần đầu Ðức Yêsu sẽ công kích thái độ đạo đức giả dối của bọn ký lục; và phần sau Người trỏ cho chúng ta thấy thái độ đạo đức đích thực nơi người góa phụ, để dạy dỗ chúng ta.

Trước hết, Người tỏ ra không ưa lối sống đạo của các ký lục. Họ khoe khoang, tham danh vọng, vì họ hay qua lại những nơi đông người, y phục xúng xính cho người ta dãn ra dành lối cho họ và chào cả trong hội đường lẫn nơi các bàn tiệc. Trong khi đó, Ðức Yêsu vẫn bảo người ta khi cầu nguyện phải khiêm tốn và cúi đầu, đấm ngực ăn năn thống hối. Và khi đi dự tiệc hãy ngồi những hàng ghế dưới. Có lần Người còn bảo môn đệ "chớ cho gọi mình là Thầy vì Thầy của các ngươi chỉ có một, còn các ngươi hết thảy đều là anh em" (Mt 23,8). Tệ hơn nữa, các ký lục còn làm nhiều bất công xã hội. Ðối với cả những phần tử đáng thương nhất, vì khổ sở nhất và cần được nâng đỡ nhất. Ðó là các bà góa. Họ có gì đâu? Của cải chồng họ để lại thuộc về trưởng nam. Có thể trước đó họ đã gửi gắm ở đâu được một chút của nào đó. Hay tài sản riêng họ có trước khi về nhà chồng, họ đã đem gửi nơi các ký lục mà họ tưởng sẽ là những người đạo đức nâng đỡ họ. Ai ngờ bọn này lại lợi dụng và dã tâm ngốn cả nhà cửa của họ! Trong khi đó, bọn ký lục còn làm bộ cầu nguyện lâu dài để mặc hình thức đạo đức. Nhưng Ðức Yêsu lên án thứ đạo đức giả hình này. Và Người muốn cho các môn đồ thấy sự đạo đức chân thật.

Cơ hội đến khi có nhiều người đến bỏ tiền vào hòm cúng. Lắm người giàu có bỏ nhiều. Bà góa khó nghèo nọ cũng đến và bỏ vào hai trinh, tức là không đáng kể gì. Nhưng Ðức Yêsu nói: bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì mọi người lấy của dư bỏ vào, còn bà lấy tất cả của độ thân mà dâng cúng.

Dĩ nhiên có thể có nhiều bài học ở đây. Người ta không xem mặt mà bắt hình dong. Không phải vì bà góa nọ nghèo mà không đáng trọng bằng kẻ giàu có; và không phải vì bà bỏ ít mà lòng đạo đức của bà thua kém ai. Cũng như tác giả sách Các Vua đã lấy hình ảnh một góa phụ ở Serepta để đối chọi với con người lộng quyền ở thời bấy giờ là Izabel, thì ở đây thánh Marcô cũng đặt người góa phụ nghèo khó đối lập với bọn giàu có và các ký lục xúng xính trong y phục. Thân góa phụ đã đáng thương rồi. Thế mà Marcô còn thêm tính từ nghèo khó. Cũng như Êlia xưa đã đáng thương khi bị tầm nã, thế mà tác giả sách Các Vua còn bắt ông phải ngửa tay ra xin nước uống và bánh ăn của một góa phụ. Ðó là những con người nghèo của Chúa. Người mến họ vì họ dám phục vụ Người với hết cả linh hồn và sức lực. Kìa bà góa nghèo nọ đang đến bỏ vào hòm tiền, tất cả của độ thân của bà, tức là tất cả mạng sống của bà. Bà làm một cử chỉ mà Ðức Yêsu không thể không nhìn thấy như muốn báo trước chính công việc Người sẽ làm, là thí mạng sống mình cho chúng ta. Chúng ta hãy nghe tác giả thư Hipri bàn về vấn đề này.

3/ Câu truyện về Ðức Kitô

Hôm nay tác giả nhắc cho chúng ta nhớ, Ðức Kitô cũng đã tiến vào thánh điện. Không phải thánh điện nhân tạo, do tay loài người dựng nên. Nói rõ hơn, không phải thánh điện trong đền thờ Yêrusalem ngày trước. Bởi vì ở đây không phải là nơi Thiên Chúa ngự thật sự. Yêrusalem chỉ là hình bóng hay bản sao của thánh điện trên trời. Ðây mới thật là thánh điện Ðức Kitô đã vào nhờ mầu nhiệm vượt qua của Ngài. Thánh điện trên trời này chính là bản tính Thiên Chúa và cung lòng của Người.

Như vậy, Ðức Yêsu vượt xa các ký lục và những người đến đền thờ dâng tiền hôm nay, kể cả bà góa nọ. Ngay các vị Thượng tế trong đạo cũ cũng thua kém hẳn Người. Vì họ cũng chỉ vào trong một thánh điện nhân tạo, cho dù nơi ấy có được gọi là nơi Cực Thánh, và chỉ có vị Thượng tế mỗi năm được vào một lần.

Ðức Kitô còn hơn hẳn họ vì Người vào thánh điện không phải là để thi hành một lễ tế vô giá trị như họ. Lễ dâng của Người có giá trị vô song. Họ thì chỉ dâng tế vật. Trường hợp vị Thượng tế thì dâng máu thay vật. Ðó là những của lễ "ở ngoài họ", cho dù có được gọi là thế vật cho họ đi nữa. Chính họ đã ý thức giá trị kém cỏi của những lễ dâng này, nên họ cứ phải dâng đi dâng lại. Và hằng năm vị Thượng tế lại phải vào nơi cung thánh. Nhưng nhân hoặc cộng các sự không hoàn toàn vần chỉ đem lại một cộng số hay tổng số không hoàn toàn.

Trong khi đó, lễ dâng của Ðức Kitô là chính Máu của Người, sự sống của Người. Và máu này, sự sống này lại tinh sạch tội lỗi, lại thánh thiện công chính hoàn toàn. Ðó là hy lễ dứt khoát, vẹn tuyền, tẩy xóa tội lỗi. Thế nên không thể lập đi lập lại, và chỉ cần thực hiện một lần vào chính lúc sung mãn của thời gian. Thành ra cũng một sự chết mà ở nơi mọi người chỉ mở sang sự phán xét, còn nơi Ðức Kitô lại đem đến ơn tha thứ cho mọi người.

Chúng ta hãy sung sướng cảm tạ lễ Vượt qua của Ðức Kitô. Nó mưu phần rỗi cho chúng ta. Chúng ta hãy thành tâm cử hành mầu nhiệm Vượt qua ấy trong thánh lễ này. Không phải chỉ để chiêm ngưỡng một hy tế của Ðức Kitô; nhưng còn để tham dự vào hành vi tiến lên thánh điện của Người. Êlia và bà góa phụ ở Serepta đã muốn tham dự vào lễ tế này khi Êlia chấp nhận cuộc đời phấn đấu và bà góa kia bằng lòng làm theo lời Thiên Chúa. Người đàn bà góa khó nghèo trong bài Tin Mừng quả thật cũng đã báo trước việc Ðức Kitô thí mạng sống mình để xóa tội trần gian. Tất cả những con người ấy đều có lòng đạo đức chân thật, khác hẳn những người ký lục mà Marcô nói tới hôm nay. Chúng ta sẽ giống hạng người nào? Chỉ có đời sống xả kỷ mới là tiêu chuẩn để giúp trả lời. Chúng ta cầu xin và quyết tâm bắt chước các gương tốt lành đã xem trong các bài Kinh Thánh hôm nay, và đặc biệt gương của Ðức Kitô sắp được tái hiện trên bàn thờ.

 

20. Bỏ vào tất cả _ Lm Ant. Nguyễn Cao Siêu, SJ

Khó lòng nhận ra đồ giả trong các món hàng. 
Ta thường đánh giá một sản phẩm dựa trên mẫu mã, 
nên dễ bị đánh lừa về chất lượng. 
Thật ra đồ giả cũng có ở nơi con người. 
Làm cho mình trẻ hơn nhờ trang điểm, tốt hơn nhờ ăn nói. 
Làm cho mình có dáng trí thức hơn, quý phái hơn 
để chiếm được lòng tin, lòng quý mến của người khác. 
Có loại người giả hình dạy một đàng, làm một nẻo, 
bắt người khác làm những điều mình chẳng bao giờ làm, 
mạt sát người khác về những tội mình không tránh khỏi. 
Có loại người giả hình rất tử tế với người ngoài, 
còn sống với người trong nhà thì không ai chịu nổi. 
Nói chung mọi thứ giả hình đều không thật. 
Ðức Giêsu cảnh giác chúng ta về thứ giả hình đạo đức: 
“Anh em hãy coi chừng...”, kẻo lại giống một số kinh sư. 
Ðức Giêsu cố ý ngồi đối diện với thùng tiền ở Ðền Thờ. 
Ngài tò mò muốn xem đám đông bỏ tiền ra sao. 
Những người giàu bỏ nhiều hơn cả. 
Nhưng Ngài lại xúc động khi thấy một bà goá nghèo 
rón rén bỏ vào thùng hai đồng xu nhỏ. 
Ngài quả quyết trước mặt các môn đệ: 
“Bà goá này đã bỏ nhiều tiền hơn người khác, 
vì mọi người lấy từ cái dư thừa mà bỏ vào, 
còn bà, bà lấy từ cái túng thiếu của mình 
mà bỏ vào tất cả những gì bà có, tất cả của nuôi thân”. 
Các môn đệ ngỡ ngàng trước cách đánh giá của Ðức Giêsu, 
cách nhìn con người dựa trên tấm lòng của họ. 
Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, 
nhưng dưới mắt Ðức Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, 
vì bà đã bỏ tất cả. 
Lối đánh giá của Ðức Giêsu 
đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác. 
Có khi chúng ta ca ngợi một người 
chỉ vì người ấy đã có những đóng góp lớn lao, 
đã đem lại những kết quả cụ thể, rõ ràng. 
Có khi chúng ta chê một người 
vì người đó kém cỏi, thiếu năng lực. 
Tiếng khen chê của ta thường dựa trên hiệu quả bề ngoài, 
và ít đụng đến phần nội tâm sâu thẳm. 
Lối đánh giá của Ðức Giêsu cũng đòi ta xét lại 
lối đánh giá của mình về chính mình. 
Tôi xao xuyến khi bị chê, tự mãn khi được khen. 
Tôi quá trọng dư luận đến nỗi trở nên nô lệ cho dư luận. 
Thật ra tôi cần đánh giá mình dựa trên cái nhìn của Chúa. 
Chúa thấy tôi thế nào thì tôi là thế ấy. 
Ðiều quan trọng khiến tôi bận tâm 
đó là tôi có dâng tất cả bản thân cho Chúa không, 
chẳng giữ lại gì cho mình, dù chỉ một xu nhỏ. 
Cần rất nhiều liều lĩnh khi bỏ nốt đồng xu cuối cùng 
để thực sự trở nên người tín thác trọn vẹn vào Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, 
khi đến với nhau, 
chúng con thường mang những mặt nạ. 
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình. 
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt 
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối. 
Khi đến với Chúa, 
chúng con cũng thường mang mặt nạ. 
Có những hành vi đạo đức bên ngoài 
để che giấu cái trống rỗng bên trong. 
Có những lời kinh đọc trên môi, 
nhưng không có chỗ trong tâm hồn, 
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế. 
Lạy Chúa Giêsu, 
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương, 
tự ru ngủ và đánh lừa mình, 
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn. 
Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ, 
đã ăn sâu vào da thịt chúng con, 
để chúng con thôi đánh lừa nhau, 
đánh lừa Chúa và chính mình. 
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành, 
để chúng con được lớn lên trong bình an. 

 

21. Từ thiện - Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Từ thiện là việc làm công đức. Người có lòng nhân ái thường hay bố thí, làm từ thiện và thi hành bác ái. Sống bác ái là sống yêu thương chia sẻ cả tình, nhân và nghĩa. Đức ái hay đức mến là một nhân đức cao đẹp của con người. Mỗi người được sinh ra đời trong một hoàn cảnh khác nhau. Trong cuộc sống có người giầu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn và người thành kẻ bại. Đời người mong manh như hạt sương dễ tan. Không có ai sống mãi trên đời. Cuộc sống của chúng ta giống như những lượn sóng nhấp nhô trồi lên rồi hạ xuống. Không ai là một hòn đảo, chúng ta sống là sống cùng và sống với người khác. Mọi người cần nương tựa, cần hỗ tương nhau và sống nương nhờ nhau. Lòng từ thiện trở thành mối giây liên kết giữa người với muôn loài.

Câu truyện của tiên tri Êlia chạy trốn vào thành giữa cơn đói kém, ông đã gặp bà góa nghèo đang đi lượm củi và ông gọi bà ấy và nói: "Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống.”(Cv 10, 10). Người đàn bà rất tử tế và có lòng bao dung: Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: "Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!” (Cv 17, 11). Tuy gia đình bà nghèo túng, bánh bột sắp cạn hết nhưng bà cũng sẵn sàng cung cấp bánh cho người xin ăn. Không phải ai cũng có thể cử xử tốt lành như bà. Nếu chúng ta ở trong trường hợp này, có lẽ chúng ta đã chần chừ và có khi chối quanh. Tự nghĩ rằng gia đình con cái của tôi còn chưa đủ ăn, làm sao có thể giúp cho người khác. Thế là chúng ta đóng kín cửa tâm hồn trước nhu cầu cần thiếu của tha nhân. Bà góa có thái độ rộng lượng và quảng đại, nên lòng từ của bà đã sinh trổ hoa trái: Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Chúa đã dùng ông Êlia mà phán. Hồi sinh đứa con của bà goá (Cv 17, 16).

Chúng ta có cơ hội suy nghĩ về việc bác ái và lòng từ của mình. Ai trong chúng ta cũng lãnh nhận rất nhiều ơn. Ơn cha nghĩa mẹ qua công sinh thành dưỡng dục, ơn thầy cô đã truyền thụ kiến thức văn hóa và nghề nghiệp. Ơn sống trong quốc gia có an bình trật tự và xã hội tiện nghi. Ơn làm con Chúa được sống trong một Hội Thánh Công Giáo. Các ơn huệ liên đới trùng trùng điệp điệp trong một kiếp người. Chúng ta đã chịu ơn của biết bao nhiêu người qua bao nhiêu thế hệ. Chúng ta đã nhận lãnh nhiều, nên cũng cần phải chia sẻ. Vì cho thì quí hơn nhận. Ai trong chúng ta cũng có cơ hội để cống hiến cho đời những hoa trái của khả năng, thời giờ và của cải. Biết rằng bất cứ ai gieo hạt, trồng cây thì cũng mong cây sinh hoa kết trái. Cha mẹ sinh con vào đời cũng mong con cái thành đạt và sinh ích cho gia đình, xã hội.

Trong bài phúc âm, kể câu truyện Chúa Giêsu đến giảng dạy trong hội đường. Chúa quan sát những hành vi cử chỉ của những thầy Luật sĩ, Biệt phái, Tư tế và mọi người đến cầu kinh. Chúa đã rút ra những bài học thực tiễn để áp dụng cuộc sống đạo. Con người chúng ta thường đánh giá con người và sự việc theo hình thức dáng vẻ bề ngoài, hơn là quan tâm đến nội tâm. Chúa Giêsu dẫn mọi người đi vào tâm ý của mình và vạch ra cách thế tế nhị, Ngài nói rằng: Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (Mc 12, 42). Hai đồng tiền kẽm chẳng có là bao so với khối tiền trong thùng dâng cúng. Số lượng qúa nhỏ để nêu danh và ghi công. Chúa Giêsu đã nhìn tận đáy tâm hồn chân chính của người đàn bà góa và Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết (Mc 12, 43).

Với chút ít tiền cúng nhưng đó là số tiền bà đang cần. Bà đã bỏ vào thùng tất cả những gì bà có. Bà không lo lắng cho ngày mai sẽ ăn gì, uống gì và mặc gì. Có nghĩa là bà đã phó thác hoàn toàn trong bàn tay Chúa quan phòng. Bà đã buông xả tất cả cái đang có, bán nghèo mua giầu. Chúa Giêsu đã khen bà: Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.( Mc 12, 44). Không sai, Chúa Giêsu nhắm trúng vào tim đen của mọi người. Nghe thế, có lẽ ai trong chúng ta cũng giật mình. Có rất nhiều lần chúng ta đã làm từ thiện, bác ái và bố thí. Nhiều việc từ thiện của chúng ta đã được ghi công bảng vàng. Chúng ta làm việc bác ái nhưng lại đòi hỏi nhiều điều kiện. Nói thật, so với những gì chúng ta đang sở hữu, tất cả việc từ thiện và bố thí của chúng ta mới chỉ là một góc nhỏ. Biết rằng đồng tiền nào cũng do công lao mồ hôi nước mắt kiếm tìm nên rất quí. Đôi khi tính toán rằng chúng ta có nhiều tiền nhưng chưa đủ, làm sao có dư. Đợi khi nào chúng ta có dư đủ, sẽ giúp người.

Phước báo cuộc đời hệ tại ở việc biết dâng hiến và chia sẻ. Càng cho đi nhiều, chúng ta càng nhận thêm nhiều. Cái tâm từ bi được cởi mở và phát khởi sự tốt lành nơi chính nội tâm. Chúng ta đừng quá quan tâm vào món quà bố thí sẽ đi về đâu. Thường thì ai cũng muốn đồng tiền cho đi được xử dụng đúng chỗ, đến đúng người và dùng đúng mục đích. Đôi khi chúng ta sẽ không hài lòng và không vui khi qùa biếu bị lạc hướng. Số qùa tặng có đến tận tay của người nghèo hay không, còn tùy thuộc qua nhiều trung gian. Cho đi nhiều hay ít thì không quan trọng bằng tâm thiện mở rộng. Điều quan trọng là tâm ý của chúng ta được an lạc vì đã làm một việc thiện. Một việc từ thiện dù nhỏ, chớ khinh. Việc thiện dù nhỏ, không nên bỏ. Làm từ thiện, bác ái và bố thí là chúng ta đang bỏ vào kho tiết kiệm phúc báo của chính mình.

Tác giả của thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét (Dt 9, 27). Mỗi người chỉ có một đời để sống. Sống dài hay sống ngắn không quan trọng cho bằng sống có ý nghĩa. Sống ý nghĩa nhất là sự hiến thân và cho đi. Cho đi như Chúa Giêsu Kitô. Ngài đã hiến dâng thân mình làm hy tế trọn vẹn để tẩy xóa tội lỗi nhân loại. Ngài đã dâng hiến tất cả đến giọt máu cuối cùng. Không phải máu chiên bò hay của cải thế thân, mà chính là sự sống con người toàn vẹn: Cũng vậy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người (Dt 9, 28). Chúa đã thể hiện một tình yêu cao vời tuyệt đỉnh và vô điều kiện là cho tất cả.

Chúng ta được mời gọi thực thi bác ái trong việc hành đạo. Dù là một việc nhỏ giúp người, chúng ta sẽ không mất phần thưởng. Vào ngày phán xét sau cùng, Chúa Giêsu đáp nghĩa: Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." (Mt 25, 35-36). Chúa kể rằng tất cả những gì chúng ta đã làm cho những người nghèo, kẻ bé mọn và người khổ đau là chúng ta đang làm cho chính Chúa. Vậy mà đôi khi chúng ta quá lo lắng cho bản thân và gia đình riêng tư mà quên đi nghĩa vụ phải có đối với tha nhân, giáo hội và xã hội. Chúng ta sợ mất thời giờ phục vụ công ích. Chúng ta ngại ngùng tham gia phục vụ trong các đoàn thể của cộng đoàn và giáo xứ. Chúng ta không dám xả thân giúp đỡ vì sợ phải hy sinh, liên lụy, tốn kém, mất mát và thua lỗ. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn thu gom cho cuộc sống mình vì sự ích kỷ hẹp hòi. Chúng ta chỉ thích làm tính cộng mà không muốn làm tính trừ.

Lạy Chúa, tất cả chúng con đang được ngụp lặn trong ân tình của Chúa và tha nhân. Xin cho chúng con biết rộng lòng chia sẻ cuộc đời với anh chị em chung quanh. Bất cứ điều gì chúng con đã lãnh nhận một cách nhưng không, xin cho chúng con cũng biết cho đi cách nhưng không.

 

22. Tấm lòng quảng đại

Câu chuyện về hai bà goá được nhắc đến trong các bài đọc hôm nay cho chúng ta hiểu thế nào về lòng quảng đại của con người. Quảng đại là dám cho đi: cho đi những gì mình đang rất cần đến; cho đi những gì mình đang quý đang yêu...

Chúa Giêsu đã từng dạy các tông đồ: "cho thì có phúc hơn là nhận". Nói đến việc cho đi thì ta phải nghĩ đến "của cho" và "cách cho". "Của cho" xét cho cùng không quan trọng bằng "cách cho". Cho thế nào để nói lên tấm lòng chân thành của mình và nhất là làm cho người nhận cảm thấy vui lòng. Đặc biệt đối với Chúa, tấm lòng chân thành dâng hiến luôn được Chúa coi trọng: "Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ".

Gần đây báo chí có đăng tin có một anh chàng Việt Kiều đại gia nào đó thích "chơi nổi". Anh ta đừng trên lầu 1 của một khách sạn sang trọng, cầm trong tay một xấp tiền đủ loại mệnh giá, ngoắc tay gọi những người ăn xin, bán vé số lại, rồi tung xấp tiền ấy lên không cho tiền bay tung toé để những người dân nghèo chen chút nhau lụm tiền giữa tiếng kêu la và chen lấn nhau. Và anh ta cảm thấy vui với cách cho tiền của mình như thế. Nhưng những người có lương tri thì cảm thấy ái ngại và xót xa trước việc làm ngông nghênh của kẻ giàu có này, và nhất là Chúa sẽ buồn lắm khi thấy con người hành động theo kiểu "bất nhân" như thế. Cho như thế chắc không đẹp lòng Chúa chút nào!

Cách cho là quan trọng. Tấm lòng là quan trọng. "Ai vui vẻ dâng hiến sẽ được Chúa nhận lời". Bà goá ở Xarepta được nhắc đến trong bài đọc 1 hôm nay có vẻ miễn cưỡng, ngập ngừng và lúng túng trước khi cho, vì hoàn cảnh khốn khổ làm cho bà khó giải quyết vấn đề. Nhưng rồi cuối cùng bà cũng dám cho đi cái bà đang rất cần với tấm lòng tin tưởng phó thác và đầy tôn trọng đối với người xin bà. Còn bà goá nghèo được Tin mừng nhắc đến hôm nay có một thái độ rất anh hùng. Chúa Giêsu đã đề cao bà, coi bà như một kiểu mẫu của việc cho đi cách chân thành và không tính toán. Chúa Giêsu muốn các tông đồ nhìn vào đó đẻ học hỏi. Bà goá nghèo ấy đã dám bỏ vào thùng tiền dâng cúng "tất cả những gì bà có để nuôi sống bà", dù số tiền ấy chẳng đáng vào đâu (1/4 xu). Đó là thái độ chân thành và rất anh hùng của người có tấm lòng quảng đại. Chúa Giêsu đã nhìn thấy tấm lòng của bà đối với công việc nhà Chúa mà bà thấy mình phải có trách nhiệm đóng góp vào đó. Cách cho đi của hai bà goá được Kinh thánh nhắc đến hôm nay thật đẹp, thật cao quí.; rất đáng đề cao và rất đáng cho chúng ta học hỏi.

Cho đi cách thật lòng chính là cách khôn ngoan nhất và chắc chắn nhất để ta giữ lại những gì mình có ở trần gian này. Thánh Phanxicô Assisi nói rằng: "chính lúc cho đi là khi được nhận lấy; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân". Đây không phải là chuyện nghịch lý nhưng là chuyện siêu lý của những người hiểu biết và khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa.

Có chuyện kể rằng: có một ông nhà giàu nọ căn dặn người nhà của ông bỏ vào quan tài thật nhiều vàng bạc để khi ông chết đi, ông sẽ có cái mà tiêu xài. Rồi ngày chết của ông cũng đến. Người ta làm đúng theo những gì ông căn dặn. Sang thế giới bên kia, ông nhìn thấy cái gì đựơc bày bán cũng hấp dẫn, nhất là các món ăn. Ông nghĩ rằng phen này tha hồ mà mua sắm và ăn uống thoả thích. Nhưng lạ thay, những người bán ở đây trả lời với ông rằng: tiền của ông ở đây không sử dụng được vì ở đây chỉ sử dụng đồng tiền cho đi chứ không xài tiền thu vào!

Chúng ta đang có đồng tiền loại nào? Chúng ta có dự định sẽ làm gì để có đồng tiền cho đi. Có một nhà tu đức đã nhắc nhở chúng ta rằng:

Những gì chúng ta tiêu xài sẽ tiêu tán mất,

Những gì chúng ta mua sắm thì người khác sẽ dùng,

Những gì chúng ta tích luỹ rồi sẽ phải để lại cho người khác,

Chỉ có những gì chúng ta cho đi là tồn tại mãi.

Thiên Chúa thấu suốt tâm hồn và tấm lòng của mỗi người chúng ta. Chúa đang xem cách thức chúng ta hành động trong việc cho đi: chúng ta có cho đi những thứ mình đang cần không? Chúng ta có dám cho đi những thứ mình đang yêu thích để chia sẻ cho anh chị em của mình chưa? Hay chúng ta chỉ cho đi những cái dư thừa, những cái bỏ đi vì không ai xài tới...? chúng ta có thấy trách nhiệm của mình phải đóng góp vào việc chung vủa Giáo hội không hay chúng ta chỉ là những người đứng ngoài lề, chỉ chờ Giáo hội ban phát cho mình thôi! Chúng ta hãy nhìn lại và tự kiểm điểm của cho, cách cho và trách nhiệm của mình trong thời gian qua như thế nào?!

Ước gì chúng ta hiểu được rằng: cho đi là một hạnh phúc, biết cho đi sẽ làm cho hạnh phúc của mình được nhân lên và tồn tại mãi. Hơn nữa, món quà cho đi sẽ trở nên vĩ đại ở nơi một người có trái tim quảng đại. Hãy học nơi Chúa tấm lòng quảng đại để chúng ta biết cách cho đi đẹp lòng Thiên Chúa. Xin Chúa giúp cho chúng ta hiểu rõ giá trị của những việc làm hy sinh và cho đi với con tim rộng mở và tấm lòng quảng đại theo gương Chúa. Hãy quảng đại đối với Chúa và mọi người để được hưởng tấm lòng quảng đại của Chúa dành cho chúng ta. Amen.

 

23. Bỏ vào tất cả.

(Trích trong ‘Manna’)

Khó lòng nhận ra đồ giả trong các món hàng.

Ta thường đánh giá một sản phẩm dựa trên mẫu mã, nên dễ bị đánh lừa về chất lượng.

Thật ra đồ giả cũng có ở nơi con người.

Làm cho mình trẻ hơn nhờ trang điểm, tốt hơn nhờ ăn nói. Làm cho mình có dáng trí thức hơn, quý phái hơn để chiếm được lòng tin, lòng quý mến của người khác.

Có loại người giả hình dạy một đàng, làm một nẻo, bắt người khác làm những điều mình chẳng bao giờ làm, mạt sát người khác về những tội mình không tránh khỏi.

Có loại người giả hình rất tử tế với người ngoài, còn sống với người trong nhà thì không ai chịu nổi.

Nói chung mọi thứ giả hình đều không thật.

Đức Giêsu cảnh giác chúng ta về thứ giả hình đạo đức: "Anh em hãy coi chừng...", kẻo lại giống một số kinh sư.

Đức Giêsu cố ý ngồi đối diện với thùng tiền ở Đền Thờ. Ngài tò mò muốn xem đám đông bỏ tiền ra sao. Những người giàu bỏ nhiều hơn cả. Nhưng Ngài lại xúc động khi thấy một bà goá nghèo rón rén bỏ vào thùng hai đồng xu nhỏ. Ngài quả quyết trước mặt các môn đệ: "Bà goá này đã bỏ nhiều tiền hơn người khác, vì mọi người lấy từ cái dư thừa mà bỏ vào, còn bà, bà lấy từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào tất cả những gì bà có, tất cả của nuôi thân."

Các môn đệ ngỡ ngàng trước cách đánh giá của Đức Giêsu, cách nhìn con người dựa trên tấm lòng của họ.

Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, nhưng dưới mắt Đức Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì bà đã bỏ tất cả.

Lối đánh giá của Đức Giêsu đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác.

Có khi chúng ta ca ngợi một người chỉ vì người ấy đã có những đóng góp lớn lao, đã đem lại những kết quả cụ thể, rõ ràng.

Có khi chúng ta chê một người vì người đó kém cỏi, thiếu năng lực. Tiếng khen chê của ta thường dựa trên hiệu quả bề ngoài, và ít đụng đến phần nội tâm sâu thẳm.

Lối đánh giá của Đức Giêsu cũng đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về chính mình.

Tôi xao xuyến khi bị chê, tự mãn khi được khen. Tôi quá trọng dư luận đến nỗi trở nên nô lệ cho dư luận. Thật ra tôi cần đánh giá mình dựa trên cái nhìn của Chúa. Chúa thấy tôi thế nào thì tôi là thế ấy.

Điều quan trọng khiến tôi bận tâm đó là tôi có dâng tất cả bản thân cho Chúa không, chẳng giữ lại gì cho mình, dù chỉ một xu nhỏ. Cần rất nhiều liều lĩnh khi bỏ nốt đồng xu cuối cùng để thực sự trở nên người tín thác trọn vẹn vào Chúa.

Gợi Ý Chia Sẻ

Có khi nào bạn đánh giá sai người khác không? Có khi nào bạn bị lừa vì cái bề ngoài của người khác không?

Mỗi người đều ít nhiều có tính giả hình. Làm sao có thể sống thành thật với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, khi đến với nhau, chúng con thường mang những mặt nạ. Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình. Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.

Khi đến với Chúa, chúng con cũng thường mang mặt nạ. Có những hành vi đạo đức bên ngoài để che giấu cái trống rỗng bên trong. Có những lời kinh đọc trên môi, nhưng không có chỗ trong tâm hồn, và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cũng thường ngắm mình trong gương, tự ru ngủ và đánh lừa mình, mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn. Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ, đã ăn sâu vào da thịt chúng con, để chúng con thôi đánh lừa nhau, đánh lừa Chúa và chính mình.

Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành, để chúng con được lớn lên trong bình an.

 

24. Cho

Có một cặp vợ chồng trở về quê thăm họ hàng. Họ xuống xe, đi bộ được một quãng thì trời đổ mưa tầm tã. Đêm đã khuya mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Thế là họ bèn gõ cửa một căn nhà có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống.

Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ đặt mấy chục ngàn lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất.

Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin mừng sáng hôm nay, và chúng ta nhận thấy: giống như bà góa, đôi vợ chồng già không phải cho đi phần thừa thãi, mà cho đi chính nguồn sống ít ỏi của mình. Họ cho đi một cách quảng đại, vui vẻ và thực lòng. Nếu suy nghĩ, chúng ta thấy có ba cách cho đi.

Cách thứ nhất là cho đi một cách bất đắc dĩ. Những người này thường nói: Tôi bực bội vì phải cho đi. Tôi miễn cưỡng phải cho đi.

Cách thứ hai là cho đi vì bổn phận. Những người này thường bảo: Tôi buộc phải cho. Họ cho đi mà lòng nặng trĩu vì bổn phận trói buộc.

Sau cùng cách thứ ba đó là cho đi với tình yêu thương. Những người này thường vui vẻ nói: Tôi muốn cho đi. Họ cho đi với tất cả tấm lòng chân thành của mình. Không phải vì ép buộc, cũng không phải vì bổn phận thúc đẩy.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã cho đi như thế nào? Chúng ta thường nói: của cho không quan trọng bằng cách cho. Vậy chúng ta sẽ cho đi những gì? Chúng ta không chỉ nói đến tiền bạc mà còn nói đến việc ban tặng chính bản thân và thời giờ của mình.

Chẳng hạn chúng ta đã dâng cho Chúa bản thân và thời gian của chúng ta vào việc thờ phượng Chúa trong ngày Chúa nhật như thế nào? Chúng ta đã trao tặng chính bản thân và thời giờ của chúng ta cho những người thân yêu trong gia đình, cũng như cho bà con lối xóm ra làm sao?

Chúng ta có biết cho đi với cõi lòng đầy hân hoan, với trái tim đầy quảng đại như bà góa trong Phúc âm hay không? Với một chút tế nhị và nhạy cảm, chúng ta sẽ khám phá ra rằng: Chúng ta có rất nhiều thứ để mà cho đi, như một bài thơ đã diễn tả: Quà tặng đẹp nhất cho kẻ thù, chính là sự tha thứ. Cho bạn bè chính là sự trung thành. Cho các em nhỏ chính là gương sáng. Cho người cha chính là lòng tôn kính. Cho người mẹ chính là tình yêu. Và cho người chung quanh chính là đôi tay của chúng ta.

Hãy cứ cho đi một cách quảng đại, chắc chắn Chúa sẽ không bao giờ chịu thua trước sự rộng rãi của chúng ta. Bởi vì, khi tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó. Khi tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương. Khi tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả sa mạc. Và khi tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả thịt máu Ngài.

 

25. Bà góa nghèo đã bỏ thùng nhiều hơn mọi người _ Noel Quesson

Bé Tôma (Thomas Carlyle) sáu tuổi ở nhà một mình, bỗng thấy một cụ già gõ cửa ăn xin. Xúc động vì lời van nài của cụ hành khất. Tôma đem con heo đất đập ra và đổ hết tiền cắc cho cụ già. Cụ run rung xòe tay đón nhận, và rơm rớm nước mắt cám ơn. Về sau Tôma trở nên một nhà văn nổi tiếng của nước Anh, có lần ông kể lại câu chuyện nhỏ này và nói: Chưa bao giờ tôi cảm thấy sung sướng như lần đó.

Khi chúng ta chia sẻ cho người khác, nhất là khi chia sẻ cho người nghèo, chúng ta sẽ cảm thấy vui. Đặc biệt là khi sự chia sẻ đòi chúng ta cố gắng nhiều, chắc chắn chúng ta càng cảm thấy vui hơn. Và niềm vui đó chính là phần thưởng Chúa ban. Vì Chúa không bao giờ bỏ quên những cử chỉ bác ái của chúng ta dù nhỏ bé đến đâu chăng nữa.

Tin Mừng kể chuyện Chúa Giêsu ngồi trước thùng tiền của Đền Thờ coi người ta dâng cúng. Bao nhiêu người giàu có bỏ những đồng tiền lớn, nhưng Chúa bảo các môn đệ: Người dân cúng nhiều nhất là bà góa nghèo bỏ vào thùng hai xu nhỏ. Những người khác quyên góp phần dư thừa, còn bà góa nghèo đã dâng cúng cả số tiền nuôi sống bà.

Chúng ta đã biết Thiên Chúa nhìn nơi tâm hồn chư không như con người chỉ nhìn vào hiện tượng bên ngoài. Một quà tặng quý không phải chỉ ở trị giá món quà, mà còn ở tấm lòng của người tặng quà nữa. Người ta không thể che mắt Chúa, Chúa nhìn thấu mọi két sắt, và tài khoản ngân hàng. Chúa biết những toan tính trong tâm tư và quý trọng việc chia sẻ ngay những thứ cần thiết cho cuộc sống mỗi người.

Nếu chỉ quan tâm tới những con số thì chúng ta thấy nhiều hiện tượng cay đắng. Mức sống trên thế giới còn bao nhiêu chênh lệch, một đồng ở chỗ này hoàn toàn khác với một đồng ở chỗ kia. Số tiền một nhà giàu xài cho một bữa ăn ở khách sạn, đủ nuôi một gia đình nghèo cả tháng, chưa kể đồng tiền của nước này so với nước kia.

Con người còn thấy được chuyện đó, huống chi Thiên Chúa, Đấng nhìn thấu lòng người. Đối lập với sự dâng cúng của những người nghèo là thói keo kiệt của các luật sĩ và Biệt phái, những người chỉ hám danh, hám lợi và thu quén vào mình. Nếp sống của họ thiên về trình diễn, mũ áo xênh xang, ăn trên ngồi trước, kinh kệ rậm ran, dài dòng, nhưng thực chất lại vơ vét hưởng thụ, bòn rút của người nghèo đói góa bụa.

Câu chuyện bà góa nghèo này được kể ngay trước khi Chúa Giêsu đi vào cuộc thương khó, đó cũng là một dấu chỉ, Chúa Cứu Thế là Đấng đã cống hiến tất cả cho chúng ta, kể cả mạng sống của Người để làm giá cứu chuộc nhân loại.

Chúa muốn chúng ta bắt chước bà góa nghèo ấy. Dù ở địa vị nào, chúng ta cũng phải thờ Chúa trong tin yêu, chân thành và quảng đại, tránh phô trương và trục lợi cho cá nhân hay phe nhóm của mình. Nên ghi nhớ lời Chúa: “Khi chia sẻ cho người nghèo khó, đừng phô trương như quân giả hình quen làm giữa hội đường hay ngoài phố xá… để việc con chia sẻ âm thầm kín đáo, được Cha, Đấng thấu suốt những gì kín đáo sẽ trả công cho con” (Mt 6,4).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết dâng hiến và trao tặng với lòng quảng đại vì tin vào Cha trên trời luôn đoái nhìn chúng con.