"Để trong mọi sự, Thiên Chúa được hết lòng yêu mến" (Ut in omnibus maxime ametur Deus) - Hội Dòng Khiết Tâm xin kính chào quý vị!
Rss Feed

CHA JOSEPH CLAUSE (Cố Hồng. MEP)

Cha Joseph CLAUSE (Cố Hồng)
(23/9/1901-18/11/1971)
 
Thời thơ ấu và niên thiếu
 
Cha Joseph Victor CLAUSE sinh tại Ham-sous-Varsberg tỉnh Moselle, thuộc giáo phận Metz, ngày 23 tháng chín 1901. Cha là con thứ tư thuộc một gia đình gồm 5 người con, hai gái và ba trai. Cha là giáo viên, một người có đức tin mạnh mẽ, nhạc công đàn phong cầm của giáo xứ. Tất cả các con đều phục vụ trong ngành giáo dục. Nhưng những nỗi bất hạnh của chiến tranh đã giáng xuống gia đình thật nặng nề. Eugène tử trận ở Bitche năm 1918 ; Edouard tử trận tại Héricourt năm 1940, Marie từ trần năm 1944. Chỉ có Jeanne, độc thân, vẫn còn sống. Mỗi tháng một lá thư từ Lorraine gửi đến cho anh trai đang là nhà truyền giáo và được anh trai trả lời rất đều đặn.

Joseph vào trường trung học của giáo phận ở Bitche năm 1914, tại đây cha đã hoàn thành tốt các lớp đệ nhị cấp. Một ít tài liệu về những năm thời niên thiếu của cha cho phép chúng ta khẳng định cha là một học trò giỏi, rất siêng năng, luôn đứng các thứ hạng đầu trong lớp, có năng khiếu về học vấn trên mức trung bình.

Ở Hội Truyền Giáo Hải ngoại

Năm 1919, cha Joseph vào đại chủng viện Metz để trải qua hai năm triết học và năm thần học thứ nhất. Sau một vài do dự vì thái độ ngập ngừng của cha giám đốc, cha đến chủng viện MEP (phố du Bac) năm 1922. Những tháng đầu tiên trải qua thật khó khăn. Do bản tính rụt rè, và ngờ vực việc nói tiếng Pháp không trôi chảy của mình (vì lúc còn bé cha chỉ nói tiếng Đức), cha bị lạc lõng bởi môi trường hoàn toàn khác với môi trường vùng Lorrain. Sự thanh thản trở lại với cha nhờ cha kết bạn với cha Camille Rohmer, cả hai không bao giờ rời nhau trong những cuộc đi dạo vào ngày thứ tư. Giữa những con người háo hức dạn dĩ thời hậu chiến, cha Joseph vẫn rất mờ nhạt, ngoại trừ một sự nổi bật nhỏ: nhạc công biểu diễn rất có năng khiếu, cha được bổ nhiệm phụ trách đàn phong cầm ở nhà thờ.

Thụ phong linh mục ngày 6 tháng sáu 1925, cha thi hành sứ vụ trong giáo phận sở tại một năm : điều này cho phép cha được miễn quân dịch theo các thoả thuận đối với vùng Alsace-Lorraine. Tháng sáu năm 1926, cha nhận được một lá thư của Đức Cha Guébriant, bề trên tổng quyền của Hội Truyền Giáo, trao cho cha bài sai đi truyền giáo tại địa phận Qui nhơn, Việt Nam.

Trên đường truyền giáo

Khởi hành từ Paris ngày 12 tháng chín, cha đến Toà giám mục Làng-Sông (gần thành phố Qui Nhơn) một tháng sau đó. Cha học tiếng Việt tại Gò Dài dưới sự hướng dẫn của cha Solvignon, và trở thành cha phó của ngài vào mùa hè năm sau, ở Tân Thanh, rồi ở Lạc Diên. Cha vẫn giữ nhiều kỷ niệm đáng nhớ về thời gian làm việc tông đồ tích cực này. Đầu năm 1930, cha Lassalmonie, giáo sư đại chủng viện Đại An ngã bệnh. Cha Clause được mời thay thế và kiêm thêm chức vụ quản lý, cũng như dạy các lớp giáo lý và Kinh Thánh. Là nhà la tinh học xuất sắc, cha nhanh chóng bắt kịp tình hình giảng dạy mặc dù tuổi còn trẻ. Năm 1932, Cha tham gia vào công việc bố trí sắp xếp đại chủng viện trong những toà nhà mới tại Qui Nhơn.

Năm 1936, cha ngưng công tác giáo dục để hoàn thành các công việc quản lý địa phận. Một năm sau đó, cha được bổ nhiệm làm bề trên tiểu chủng viện. Chính tại vị trí này cha sẽ tận hiến phần lớn cuộc đời truyền giáo của cha. Ở đó, cha không tiết kiệm nỗi khó khăn vất vả của mình. Mối quan tâm miệt mài của cha chính là công cuộc đào tạo tinh thần cho các chủng sinh. Cha tận dụng những kỳ nghỉ hè để biên soạn hàng loạt bài suy niệm và những bài huấn đức để truyền lại rất đều đặn cho các đại chủng sinh cũng như các tiểu chủng sinh. Cha Clause có kiến thức sâu rộng về tiếng Việt, cha sử dụng tiếng Việt thật dễ dàng và trong sáng. Cha triển khai hết sức dễ dàng một đề tài bằng một văn phong sáng sủa, giàu bài học về giáo lý, cha không khoa trương hùng biện và lối nói của cha hơi đều đều thích hợp cho những cuộc nói chuyện tâm linh.

Nhưng cha cũng là một cha giáo ưu tú. Là chuyên gia trong tất cả các bộ môn, cha phụ trách rất nhiều giờ dạy trên lớp. Là chuyên viên về toán và các môn khoa học, cha còn là một học giả về văn phạm và tiếng la tinh không có gì là hóc búa đối với cha. Vì thế trong nhiều năm, cha đã thành công trong việc nâng cao trình độ học tập để đạt đến giai đoạn giảng dạy chính thức của chương trình đệ nhị cấp của Pháp.

Ở tuổi 40, cha buộc phải khoác bộ quân phục vào tháng sáu 1940, và cho đến tháng ba 1941, cha phục vụ tại Huế và Lào với tư cách quân nhân nuôi bồ câu đưa thư. Người ta thường nhìn thấy «Cha Bồ câu» (Père Pigeon) đạp xe đạp trên con đường đi Quảng Trị, mang theo những con bồ câu càng xa càng tốt để rồi thả cho chúng bay trở về vào buổi chiều nhằm kiểm tra xem những thư tín có trở về đầy đủ hay không.

Rồi cuộc sống bình thường trở lại ở chủng viện Làng Sông. Năm 1942, cha được bổ nhiệm linh mục đại diện, trọng trách này kết thúc vào tháng mười hai khi Đức Cha Tardieu từ trần. Ngày 1 tháng năm, khi biết tin có ba người Pháp còn sống tự do tại vùng nông thôn, quân Nhật liền xem họ như những phần tử chống đối nguy hiểm và hạ lệnh bắt giam họ tại sở hiến binh Qui Nhơn. Họ chỉ được ra khỏi nhà giam này ngày 15 tháng tám cùng năm. Cha Clause kiên trì chịu đựng cơn thử thách này, nhưng cha luôn giữ vết thương tinh thần về sự kiện này...

Tiếp theo sau đó là số phận chung của tất cả các nhà truyền giáo tụ họp lại tại Toà giám mục Qui Nhơn, rồi Huế. Tháng tám 1946, chúng ta lại gặp cha ở Dinh Thuỷ (Phan Rang) tại đây cha lại điều hành một tiểu chủng viện, đồng thời phải đương đầu trước nhiều khó khăn về vật chất, nhất là việc thiếu thốn sách giáo khoa. Cha cũng phụ trách việc dâng lễ Chúa Nhật tại nơi này nơi kia của cộng đồng Kitô giáo trong khu vực. Điều đặc biệt là cha tận tuỵ hy sinh phục vụ cho các tù nhân bị giam trong nhà tù quân sự của Pháp tại Phan Rang. Là người duy nhất được phép tiếp cận các tù binh, cha trở thành người trung gian và các gia đình thúc ép cha nhận lương thực để phân phát hầu như hàng ngày cho những người tù bất hạnh này, cha cố gắng lấy lòng những người lính cai tù không phải lúc nào cũng tỏ ra ngoan ngoãn. Hai mươi lăm năm sau, những người ngoại đạo vẫn còn nhớ đến lòng bác ái này và xin lễ cầu nguyện cho vị ân nhân ngày xưa của họ.

Năm 1952, cha hết sức vui mừng vì có thể bố trí cộng đoàn một cách thuận tiện hơn tại Toà giám mục Nha Trang (22 Duy Tân) và năm 1958, trong một chủng viện cố định, mới vừa được xây dựng trên bờ biển ở phía bắc thành phố Nha Trang (Tiểu chủng viện Sao Biển).

Lúc bấy giờ cha nghĩ tốt hơn nên nên trao việc lãnh đạo vào tay những người trẻ tuổi hơn và về phần cha, con người chẳng bao giờ đòi hỏi điều gì, cha khẩn khoản xin Đức Cha Piquet kiếm một người thay thế cha vào đầu niên học 1959. Cha vui vẻ bằng lòng ở lại Tiểu chủng viện để tiếp tục công tác giảng dạy và làm nhiệm vụ cha linh hướng. Do tính cách dè dặt và tế nhị của cha, giải pháp này chỉ có lợi cho cha.

Năm 1964 cha Clause rời bỏ hẵn chủng viện để nhận trọng trách linh hướng cho các Sœurs dòng Khiết Tâm Bình Cang, nhà mẹ của cộng đoàn vừa thành lập. Nhưng đây không phải là một chức vụ an nhàn gì, bởi vì cha không thể từ chối dạy thêm những giờ trên lớp cộng với nhiều giờ huấn đức. Nhất là cha phải thay thế cha quản xứ, linh mục Paul Valour bạn của cha, trong thời gian ngài đi nghỉ. Từ tháng năm 1967, một lần nữa, cha phải thay thế cha Valour bị tai nạn xe. Ít lâu sau đó cha Valour đi dưỡng bệnh và cha Clause tiếp tục làm công việc của cha quản xứ kiêm cha tuyên uý trong gần hai năm. Nghị lực và tinh thần tận tuỵ đã giúp cha đương đầu với tình thế khó khăn.

Một tân linh mục được bổ nhiệm đến nhận giáo xứ Bình Cang, cha Clause có thể trở về cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên ngài muốn tiếp tục tích cực làm thêm công tác mục vụ. Trong suốt một năm rưỡi, mỗi sáng Chúa Nhật, cha đi làm lễ trong một giáo xứ xa hơn, nhờ đó cha giúp đỡ rất nhiều cho cha Jeanningros (Hà Dừa). Chúa nhật ngày 17 tháng mười 1971, cha đi xe đạp trở về và chỉ còn cách Bình Cang hơn 1 km, một chiếc xe jeep húc cha ngã xuống và bánh xe trước đã làm hai chân cha bị gãy; đặc biệt cha bị một vết thương thật sâu ở đầu gối phải. Ba ngày sau, cha được đưa vào nhà thương Grall tại Saigon. Vì cha mắc bệnh đái tháo, nên các thứ thuốc trụ sinh trở nên vô hiệu và bệnh nhiễm trùng máu không thể chữa khỏi. Cha lãnh nhận bí tích bệnh nhân trong tâm trạng hoàn toàn tĩnh táo vào ngày 16 tháng 11 và trút hơi thở cuối cùng vào sáng ngày 18. Tinh thần phó thác hoàn toàn của cha khiến cho những người săn sóc cha hết sức thán phục.

Thi hài cha được đưa về Bình Cang. Thứ hai ngày 22 tháng 11, thánh lễ an táng được diễn ra trong nhà thờ giáo xứ Bình Cang. Mặc dù trời mưa như trút nước và mở màn cho trận lụt, 45 linh mục vẫn hiện diện ; Nhiều linh mục trong số đó đã dâng thánh lễ đồng tế. Đức Giám mục Nha Trang và Qui Nhơn đồng tế. Đức Cha Nguyễn Văn Thuận giám mục Nha Trang đọc điếu văn tuyên dương cha, đồng thời cảm tạ Thiên Chúa và Hội Truyền Giáo Hải ngoại đã ban cho giáo phận truyền giáo một linh mục gương mẫu. Đức Cha nhấn mạnh đặc biệt tinh thần hăng say, bác ái và hy sinh quên mình mà cha Clause đã chứng tỏ trong suốt 45 năm trong đời sống tông đồ. Trận lụt đã ngăn cản việc đưa linh cửu cha ra nghĩa trang giáo xứ, thi hài cha đã được an táng trong khuôn viên của Dòng Khiết Tâm Bình Cang.

Trong những ngày tang lễ, nhiều dấu hiệu thiện cảm chứng tỏ cho chúng ta thấy cha Clause đã được mọi người đồng lòng quý mến.

Con người - Linh mục

Các nữ tu và các đệ tử nhà dòng xem cha tuyên uý của họ như một vị thánh. Tất cả các cựu chủng sinh của cha, dù là linh mục hoặc giáo dân, vẫn luôn giữ một kỷ niệm sâu sắc về cha giáo của họ.

Không cần nói đến sự hiểu biết sâu rộng của cha, cha Clause có nhiều phẩm chất đạo đức khiến mọi người kính trọng. Lòng đạo đức của cha được diễn tả bằng tính đúng giờ giấc không sai sót trong đời sống cầu nguyện. Đó là một con người khiêm tốn không tìm kiếm tiếng tăm hoặc lấy lòng mọi người. Đó là một người nghèo, rất biết tiết kiệm đối với tất cả những gì có liên quan đến cá nhân cha, cha trốn tránh tiện nghi, làm việc bác ái trong âm thầm. Đó là một người làm việc miệt mài, kẻ thù của bất cứ việc đánh mất thời gian nào. Những trò giải trí duy nhất cha tự cho phép mình đó là đọc nhanh các nhật báo và tạp chí và nguệch ngoạc những bài toán đại số bí ẩn trên những phong bì cũ kỷ. Cha đã viết đầy một chục quyển vở bằng một thứ chữ viết dày đặc sít sao để triển khai tất cả các đề tài tôn giáo có thể phục vụ cho việc giảng dạy của cha. Trong nhiều năm, Đức Cha Piquet đã nhờ đến sự giúp đỡ của cha, trong phần lớn công việc liên lạc thư từ chính thức.

Không cần phóng đại, chúng ta có thể nói cha Clause là con người của công việc, hết sức thẳng thắn, đôi khi đến mức ngại ngùng, nhưng luôn luôn rất thông cảm với những người khác. Mặc dù dè dặt khi tiếp xúc, cha vẫn là một người đồng nghiệp tuyệt vời, tinh tế và đầy lòng bác ái. Tất cả linh mục từng sống cùng với cha đều cảm nhận là họ đã mất đi một người bạn.

Thiên Chúa đã gọi cha về với Người, trong khi cha còn có thể thực hiện những công việc phục vụ quý báu. Nhưng cha rất xứng đáng với lời mời gọi : “Euge serve bone et fidelis !”,
 

Chuyển ngữ: Nguyễn Kim Ngân
Nguồn: Trang Mepasie

-----

TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN CỐ HỒNG (CHA JOSEPH CLAUSE, MEP) THỪA SAI TẠI QUI NHƠN VÀ NHA TRANG

Ngày 18-11-1971, Cha Joseph Victor Clause - Cố Hồng - êm ái trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Grall ở Sàigòn, hưởng thọ 70 tuổi. Cố Hồng thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP).

Linh Mục Joseph Victor Clause chào đời ngày 23-9-1901 tại Ham-sous-Varsberg, vùng Moselle, thuộc giáo phận Metz (Đông Bắc Pháp). Cha là con thứ tư trong gia đình có 5 anh chị em, 2 gái và 3 trai. Thân phụ là giáo viên, một tín hữu Công Giáo có Đức Tin vững mạnh và là người phụ trách đánh đàn cho giáo xứ. Các con trong gia đình đều chọn nghề giáo.

Thế nhưng đệ nhất thế chiến 1914-1918 và đệ nhị thế chiến 1939-1945 đã gieo chết chóc tang thương cho gia đình. Anh trai Eugène tử trận tại Bitche năm 1918. Anh thứ hai Edouard tử trận tại Héricourt năm 1940. Em gái Marie từ trần năm 1944. Duy nhất còn lại Chị Jeanne sống độc thân. Đều đặn mỗi tháng, Chị Jeanne từ Lorraine viết cho em trai Joseph nơi miền truyền giáo Việt Nam xa xăm một lá thơ. Và Cha Joseph trung tín phúc đáp thư cho bào tỷ yêu dấu.

Năm 1914, cậu Joseph vào trường trung học ở Bitche và hấp thụ nền giáo dục vững chãi. Theo một số dữ kiện minh chứng thì Joseph là học sinh chuyên cần, thích học hỏi và luôn dẫn đầu lớp.

Năm 1919, Joseph gia nhập Đại Chủng Viện Metz và học 2 năm Triết cùng 1 năm Thần học. Năm 1922 thầy Joseph gia nhập Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris ở số 128 đường du Bac. Thời gian đầu thật khó khăn. Lý do vì tính tình thầy Joseph nhút nhát cộng thêm Pháp ngữ không chuẩn - tuổi thơ ở Lorraine thường nói tiếng Đức. Thêm vào đó bầu khí Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris hoàn toàn khác biệt với Đại Chủng Viện Metz. Dần dần mọi chuyện ổn định nhờ tình huynh đệ chân thành của thầy Camille Rohner. Đôi bạn thật khắng khít đặc biệt trong những buổi đi dạo vào ngày thứ tư hàng tuần. Giữa đoàn ngũ các các thỉnh sinh Hội Thừa Sai Paris hăng say và hoạt náo, thầy Joseph sống thật kín đáo, ngoại trừ một ưu hạng: vì xuất sắc về âm nhạc nên thầy được chọn đánh đàn cho Chủng Viện.

Thụ phong Linh Mục ngày 6-6-1925, tân Linh Mục Joseph Clause trở về giáo phận nguyên quán để hoạt động mục vụ trong vòng một năm. Tháng 6 năm sau - 1926 - Cha nhận được thư của Đức Cha Guébriant, Bề Trên Hội Thừa Sai Paris, chỉ định Cha đi truyền giáo tại Qui Nhơn, miền Trung Việt Nam.

Khởi hành từ Paris ngày 12-9-1926 Cha Joseph đặt chân đến Tòa Giám Mục Làng-Sông một tháng sau. Chính tại Gò-Đại mà Cha Joseph Clause học tiếng Việt dưới sự hướng dẫn của Cha Solvignon và làm Cha Phó Gò-Đại năm sau đó. Cha trú ngụ tại Tân-Thanh rồi tại Lạc-Điền. Từ nay Cha Joseph Victor Clause được biết đến với tên Việt là Cố Hồng.

Cố Hồng giữ một kỷ niệm êm đẹp về khoảng thời gian mục vụ linh động của những ngày khởi đầu cuộc đời truyền giáo.

Đầu năm 1930 Cha Lassalmonie, giáo sư Đại Chủng Viện Đại-An lâm bệnh. Cố Hồng được chỉ định thay thế và kiêm thêm chức quản lý, giáo sư môn Tín Lý và Kinh Thánh. Vốn xuất sắc về tiếng La-tinh, chẳng mấy chốc vị thừa sai trẻ tuổi nắm vững tình thế. Năm 1932 Cố Hồng giữ nhiệm vụ dời Đại Chủng Viện về cơ sở mới ở Qui Nhơn. Năm 1936 Cha ngưng dạy để chỉ giữ nhiệm vụ quản lý. Một năm sau, Cha được chỉ định làm Bề Trên Tiểu Chủng Viện. Chính trong chức vụ này mà Cố Hồng dâng hiến phần lớn đời mình cho công cuộc truyền giáo.

Niềm ưu tư triền miên của Cha là cống hiến cho chủng sinh một nền huấn luyện vững chắc về phương diện tu đức. Cha dành thời gian nghỉ lễ để dọn các bài suy gẫm và các bài đọc thiêng liêng để dạy các thầy và các chú chủng sinh. Cố Hồng đạt một hiểu biết rất rõ về Việt-ngữ và nói thông thạo trôi chảy tiếng Việt. Cha có biệt tài trình bày một chủ đề với ngôn từ vừa rõ ràng vừa có nền tảng tín lý. Chỉ đáng tiếc một điều là Cha không chú ý nhiều đến nghệ thuật giảng thuyết nên các môn dạy của Cha thường mang nét đều đều buồn chán.

Ngoài ra Cố Hồng là giáo sư tuyệt hảo. Như một chuyên viên kỷ luật Cha phụ trách rất nhiều môn dạy. Giỏi về Toán và Khoa Học, Cha còn là học giả về sư phạm, và La-ngữ không có gì là bí ẩn đối với Cha. Vì thế, theo dòng thời gian Cha trau dồi kiến thức đủ để đạt khả năng trở thành giáo sư chính thức của chương trình Trung Học Pháp đệ nhị cấp.

Tháng 8 năm 1946 Cố Hồng được chỉ định đến Dinh Thủy, Phan Rang. Nơi đây Cha được giao nhiệm vụ khởi công điều hành một Tiểu Chủng Viện. Cha hăng hái bắt tay vào việc, mặc cho bao khó khăn và thiếu thốn trăm bề, nhất là các sách học đường. Cùng thời gian này Cha đến dâng Thánh Lễ vào mỗi Chúa Nhật cho một xứ đạo trong vùng Phan Rang. Đặc biệt, Cha lưu tâm chăm sóc cách riêng các tù nhân bị giam nơi trại tù quân đội Pháp ở Phan Rang. Với tư cách là người duy nhất được phép đến gần các tù nhân, Cha tự nguyện làm trung gian mang lương thực của gia đình đến cho các tù nhân. Mọi người lợi dụng tối đa lòng tốt của Cha. Thật là nghĩa cử bác ái đúng theo tinh thần Kitô Giáo. Mãi đến 25 năm sau, nhiều người ngoại giáo vẫn còn ghi ơn lòng bác ái của Cố Hồng và cầu xin ơn an nghỉ đời đời cho vị ân nhân quá cố.

Tháng 3 năm 1951 một nhóm bộ đội đột nhập Tiểu Chủng Viện Dinh Thủy vào ban đêm. Cố Hồng ra trình diện và tự nguyện làm tù binh với điều kiện họ phải để cho các chú chủng sinh yên thân. Thế là nhóm bộ đội cộng sản đưa Cha lên núi trong vòng 10 ngày. Sau đó họ thả ngài về bằng an. Chính sức mạnh tâm linh đã giúp Cha trải qua biến cố thử thách một cách thư thái mà không hề bị chấn động và mảy may thay đổi tính tình trầm lắng của Cha.

Năm 1952 Cố Hồng sung sướng đưa toàn bộ Tiểu Chủng Viện về cư trú tại số 22 đường Duy Tân, ngày nay là Tòa Giám Mục Nha Trang. Đến năm 1958 thì Tiểu Chủng Viện có cơ sở mới bên Thanh Hải, nằm sát bờ biển với tên gọi Tiểu Chủng Viện Sao Biển - Stella Maris.

Giờ đây Cố Hồng nghĩ rằng đã đến lúc giao trách nhiệm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện cho các Linh Mục trẻ tuổi hơn. Thông thường Cha không bao giờ xin một điều gì, nhưng lần này ngài nhất định nài nĩ và Đức Cha Paul Marcel Piquet Lợi (1888-1966) chấp thuận lời yêu cầu của Cha. Vào đầu niên khóa 1959-1960, Tiểu Chủng Viện Sao Biển Nha Trang có vị TÂN Giám Đốc. Đó là Cha Pierre Jeanningros - Cố Vị (1912-2006). Tuy nhiên Cố Hồng vẫn sẵn sàng ở lại Tiểu Chủng Viện với nhiệm vụ là giáo sư và là Cha Linh Hướng. Với tính tình kín đáo, dè dặt và tế nhị, các chức vụ này thật thích hợp với Cha.

Năm 1964 Cố Hồng chính thức rời Tiểu Chủng Viện Sao Biển ở Thanh Hải và đến làm Tuyên Úy cho các Nữ Tu Khiết Tâm Đức Mẹ có Nhà chính tại Bình Cang. Nhưng đây không phải là thời gian hưu dưỡng. Bởi lẽ Cha phụ trách môn Tu Đức cho các Đệ Tử Khiết Tâm Đức Mẹ. Nhưng nhất là Cha thường giữ nhiệm vụ thay thế Cha Sở Paul Valour - Cố Lực (1906-1971) - mỗi khi Cha Sở đi vắng. Kể từ tháng 5 năm 1967 Cố Hồng chính thức làm Cha Sở Bình Cang kiêm thêm chức Tuyên Úy dòng Khiết Tâm Đức Mẹ.

Năm 1969 giáo xứ Bình Cang có Cha Sở mới là Cha Louis Lê Văn Sinh (1930-2004). Cố Hồng trở về với cuộc sống bình thường thư thả hơn. Tuy nhiên Cha không bao giờ vui hưởng an nhàn nhưng luôn mong muốn tiếp tục công tác mục vụ. Vì thế trong vòng một năm rưỡi, vào mỗi sáng Chúa Nhật, Cha đạp xe đạp lên tận giáo xứ Hà Dừa để dâng Thánh Lễ phụ giúp Cha Sở Pierre Jeanningros - Cố Vị.

Nhưng rồi tai nạn xảy ra. Chúa Nhật 17-10-1971 trên đường từ giáo xứ Hà Dừa trở về, khi chỉ còn cách Bình Cang khoảng vài cây số, Cố Hồng bị một chiếc xe Jeep tung vào làm gãy 2 chân. Đặc biệt Cha bị một vết thương thật sâu nơi đầu gối bên phải. Ba ngày sau, Cha được đưa vào điều trị nơi bệnh viện Grall ở Sài Gòn. Thế nhưng vì Cha bị bệnh tiểu đường nên các thuốc trụ sinh không gây hiệu quả nào trong công cuộc chữa trị. Các bác sĩ bó tay.

Biết rõ giây phút cuối cùng đã điểm, Cha sốt sắng lãnh các Bí Tích sau cùng với trọn ý thức và tâm tình phó thác nơi THIÊN CHÚA Quan Phòng. Sáng 18-11-1971 Cha Joseph Victor Clause - Cố Hồng - êm ái trút hơi thở cuối cùng. Sự kiện Cố Hồng hoàn toàn thanh thản ra đi đã để lại niềm thương mến sâu xa và lòng kính phục vô bờ nơi các bác sĩ, y tá có dịp phục vụ Cha tại bệnh viện Grall ở Sài Gòn.

Thi hài Cố Hồng được đưa về Bình Cang và Thánh Lễ an táng diễn ra vào ngày 22-11-1971. Vì có các cơn mưa tầm tã vào những ngày ấy nên không thể đưa linh cữu ra nghĩa trang, các Bề Trên quyết định chôn cất Cố Hồng ngay trong sân Tu Viện Khiết Tâm Đức Mẹ Bình Cang.

Thật là ân huệ quan phòng. Bởi vì nhờ thế mà Cha Tuyên Úy Joseph Victor Clause - Cố Hồng - an nghỉ bên cạnh đoàn con Khiết Tâm, từng thụ huấn và thụ ơn Cha rất nhiều.

Nguyện xin THIÊN CHÚA Nhân Lành thưởng công bội hậu cho vị tôi tớ tín trung đã dâng hiến trọn cuộc đời cho cánh đồng truyền giáo Việt Nam thân yêu.

... "Suy nghĩ lo toan là việc của con người, còn nói câu trả lời là do THIÊN CHÚA. Hãy ký thác việc bạn làm cho THIÊN CHÚA, dự tính của bạn ắt sẽ thành công. Khi THIÊN CHÚA hài lòng về lối sống của ai, Ngài khiến cả quân thù cũng làm hòa với kẻ ấy. Thà ít của cải mà sống công chính hơn nhiều huê lợi mà thiếu công minh. Tâm trí con người nghĩ ra đường lối, còn THIÊN CHÚA hướng dẫn từng bước đi. Người có trí khôn ngoan được coi là sáng suốt, lời ngọt ngào làm cho sức thuyết phục gia tăng. Lời tử tế là tản mật ong làm cổ họng ngọt ngào, khiến xương cốt lành mạnh” (Sách Châm Ngôn 16,1-24).

(Archives des Missions Étrangères de Paris MEP)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
 


Từ khóa:

phụ trách, đệ tử