"Để trong mọi sự, Thiên Chúa được hết lòng yêu mến" (Ut in omnibus maxime ametur Deus) - Hội Dòng Khiết Tâm xin kính chào quý vị!
Rss Feed

BỆNH CƯỜM  (ĐỤC THỦY TINH THỂ)

Bệnh cườm (đục thủy tinh thể) là gì ?

Bệnh đục thủy tinh thể trong dân gian thường gọi là cườm khô, khác với bệnh tăng nhãn áp được gọi là cườm nước. Mắt của con người cũng giống như một máy hình. Máy hình gồm 2 bộ phận chính là ống kính và phim, còn ở mắt ống kính là thủy tinh thể, phim là võng mạc. Ở máy hình khi ống kính bị mốc hay bể thì cho ảnh mờ, còn ở mắt khi thủy tinh thể bị đục hay bị bể (do chấn thương) thì người ta nhìn mờ.

Đa số là do tuổi già (90%), vì chuyển hóa trong cơ thể suy yếu. Còn các nguyên nhân khác là do bị bệnh trong cơ thể như tiểu đường, viêm nhiễm ở mắt, bị cườm nước, bị chấn thương hoặc các bệnh bẩm sinh gây cườm ở trẻ nhỏ. Một số yếu tố khác cũng gây cườm như thiếu dinh dưỡng, do ảnh hưởng của các tia sáng như tia cực tím v.v…

Người bệnh thấy mắt bị mờ dần, không đau, không nhức, không đỏ, đi thử kính không thấy kính nào nhìn rõ hơn. Đến lúc mờ nhiều như không còn đọc được các chữ lớn trong sách báo, nhìn vào trong mắt thấy đồng tử đổi màu, có thể màu trắng hoặc đen nâu. Đi khám bệnh bác sĩ nhãn khoa có thể phát hiện ngay từ khi mới bắt đầu bị cườm. Không có thuốc nào nhỏ vào mắt làm tan cườm như lời đồn đại. Khi đã bị cườm, nhất là lúc cườm đã chín thì cách chữa duy nhất là mổ để lấy cườm rồi đặt thủy tinh thể nhân tạo hoặc cho đeo kính.

Khi nào thì mổ ?

Tùy theo từng người. Đối với những người làm việc bằng mắt nhiều như cần phải đọc sách, lái xe… thì khi họ không nhìn được chữ rõ nữa thì nên đi mổ sớm. Còn đối với những người không phải làm việc bằng mắt nhiều thì có thể để muộn hơn. Tuy nhiên, không bao giờ để cườm quá chín, tức mắt quá mờ (không thấy được bóng bàn tay trước mắt). Cườm quá chín sẽ gây biến chứng như cườm nước cấp tính gây đau nhưc mắt, nhức đầu dữ dội, có thể làm tổn thương thần kinh thị giác. Lúc đó lại phải đi mổ gấp mà sau mổ chưa chắc đã nhìn thấy được. Ở nước ta có rất nhiều người lúc bị cườm không chịu đi mổ vì sợ, khi đã có biến chứng thành cườm nước, đau nhức quá, đã mù mới chịu mổ, lúc đó có mổ cũng không cứu vãn nổi, chỉ giải quyết cho khỏi đau nhức mà thôi.
Sau khi mổ cườm, muốn nhìn rõ phải đeo kính hoặc đặt thủy tinh thể nhân tạo. Có 3 loại kính:
  1. Đeo kính gọng: loại kính có độ hội tụ cao khoảng +10 đến +12 điốp.
  2. Đeo kính tiếp xúc (kính sát tròng).
  3. Đặt thủy tinh thể nhân tạo: là một thấu kính chỉ nhỏ bằng hạt bắp, rất nhỏ, được đặt ngay vào trong mắt lúc mổ.
Dùng kính nào tốt nhất ?

Tùy trường hợp và điều kiện tài chính của bệnh nhân. Tốt nhất là đặt thủy tinh thể nhân tạo vì cho hình ảnh trung thực nhất. Hiện nay ở nước ta việc đặt thủy tinh thể nhân tạo rất thông dụng. Mới đây đã mổ bằng phương pháp Phaco, không cần phải khâu, phục hồi nhanh. Thường thì thủy tinh thể nhân tạo không gây phản ứng gì cho người bệnh. Người bệnh không thấy cảm giác gì khi đặt thủy tinh thể nhân tạo ở trong mắt.

Nếu không có điều kiện, sau khi mổ có thể đeo kính gọng, nhưng có phiền toái là hình ảnh lớn hơn bình thường. Lúc đầu bệnh nhân nhìn không quen sẽ rất khó chịu, nhận định khoảng cách không đúng, nhất là xuống cầu thang dễ bị té, đôi khi chóng mặt. Ai cũng phải tập luyện đeo kính một thời gian rồi dần dần mới quen, có người phải mất 6 tháng, có người tập hoài mà vẫn không quen được.

Kính áp tròng cho ảnh hưởng ít hơn kính gọng, vì vậy thoải mái hơn, nhưng chỉ dùng cho người trẻ vì cần khéo léo, tay không run và mắt kia còn nhìn được tốt. Còn đối với người già bị cườm cả hai mắt thì rất khó sử dụng vì tay họ đã run, mắt mờ, thao tác không chính xác, dễ bị rớt kính. Ngoài ra, kính áp tròng có thể gây dị ứng, không phải ai cũng thích hợp được.

Không phải mổ cườm bao giờ cũng tốt và làm cho mắt có thể thấy rõ ràng được ngay. Lúc mới mổ và sau khi mổ có thể có biến chứng như xuất huyết, viêm bồ đào, cườm nước thứ phát, bong võng mạc, viêm nhiễm… Nếu đặt thủy tinh thểnhân tạo một thời gian sau cũng dễ bị đục bao sau làm mắt mờ trở lại, lúc đó cũng phải dùng laser để đốt. Ngoài ra, mắt sau khi mổ cườm và đeo kính, nhìn được rõ nhiều hay ít còn tùy thuộc vào tình trạng võng mạc còn tốt hay đã bị bệnh. Nếu võng mạc đã bị bệnh thì mổ cườm chỉ giúp được phần nào thôi, cũng như máy hình đã thay ống kính còn tùy thuộc vào phim tốt hay xấu. Nếu phim đã hư hay hết “đát” thì dù có thay ống kính tốt mấy chăng nữa hình ảnh cũng mờ thôi.

BỆNH CƯỜM NƯỚC (BỆNH TĂNG ÁP MẮT)
 
Cườm nước (glaucoma) là một bệnh có thể đưa đến mù lòa và là một trong những nguyên nhân gây mù lòa nhiều nhất. Nếu bệnh được phát hiện sớm có thể tránh được mù lòa cho bệnh nhân. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân nhận biết được bệnh khi bệnh đã tiến triển quá nặng.

Cườm nước là gì ?

Cườm nước là do áp suất ở trong mắt tăng (hay là bệnh tăng nhãn áp) và dần dần gây nên những tổn hại vĩnh viễn ở mắt. Bệnh có thể ở một hoặc ở cả hai mắt. Có rất nhiều loại cườm nước, nhưng loại thường gặp nhất ở nước ta là loại cấp tính (góc đóng).

Bệnh xảy ra như thế nào?

Mắt bình thường có dạng một quả cầu đường kính khoảng 2cm, có chứa một loại nước gọi là thủy dịch lưu thông thường xuyên để nuôi dưỡng nhiều cơ quan trong mắt. Sự lưu thông của thủy dịch bao giờ cũng ở trạng thái cân bằng. Dịch này thoát ra khỏi mắt qua những lỗ nhỏ ở phía trước. Nếu những lỗ này bị hẹp hay bị bít thì dịch sẽ bị ứ lại, gây tăng áp suất trong mắt, làm tổn hại những thần kinh thị giác. Từ đó mắt mờ dần và gây mù lòa.

Những ai có thể bị cườm nước ?

-   Cườm nước không phải là bệnh nhiễm trùng, có liên quan đến một số yếu tố di truyền và tuổi tác (40 tuổi trở lên). Đây là lý do khó phát hiện ở người già vì họ nghĩ rằng mắt mờ là do cao tuổi nên không đi khám mắt.
-   Ở tuổi 40 khi bắt đầu nhìn gần (như xỏ kim hoặc đọc sách) thấy khó khăn, mắt mờ, nhòa phải đeo kính lão để đọc sách.
-   Ở người đã mổ mắt trong dạng cấp tính, mắt còn lại có thể bị bệnh bất cứ lúc nào, cho nên phải theo dõi mắt còn lại. Nếu có triệu chứng đau nhức cần phải đến bệnh viện ngay. Vì cườm nước là một bệnh cần theo dõi suốt đời, ngay khi đã mổ tốt. Nên gìn giữ hồ sơ và khám đều đặn theo lời dặn của bác sĩ nhãn khoa để theo dõi tiến triển của bệnh, từ đó có phương pháp điều trị kế tiếp.
-   Những người có thành viên trong gia đình đã bị cườm nước.

Người bị cườm nước cảm thấy gì ?

-   Có 2 loại cườm nước: một loại tiến triển nhanh (cấp tính) một loại tiến triển âm thầm, chậm chạp (mạn tính).
-   Ở loại tiến triển cấp tính, người bệnh thấy nhức mắt, nhức nửa đầu, đôi khi rất dữ dội, có thể kèm theo ói mửa, đau bụng, nhìn thấy các vòng màu giống “cầu vồng”, hay bị thị lực giảm sút, mắt đỏ, cảm thấy mắt căng cứng, đồng tử giãn nở (con ngươi nở lớn).
-   Dạng tiến triển âm thầm thì rất khó biết. Người bệnh thấy hơi đau, hơi xốn, mắt mỏi, đôi khi cảm thấy mắt mờ. Các triệu chứng không rõ rệt và khi mắt mờ hẳn bệnh nhân mới đến bác sĩ thì đã quá muộn vì các tổn thương không phục hồi được, nhất là những người từ 40 tuổi trở lên, nhiều người cứ tưởng là do “lão” đến tuổi phải đeo kính và chỉ đến tiệm để cắt kính mà không được theo dõi nhãn áp và khám mắt một cách cẩn thận.

Các tổn hại trong cơ cấu của mắt:

-   Có thể ngăn chặn ở bất cứ tuổi nào nếu bệnh nhân quan tâm đến mắt. Không nên ngần ngại đi khám bác sĩ.
-   Nếu bị cườm mắt thì không thể tái tạo lại thị lực đã mất, nhưng điều quan trọng là ngăn được thị lực khỏi giảm thêm. Có bị mù lòa hay không phụ thuộc vào việc thăm khám bác sĩ sớm hay muộn.

Điều trị sớm là điều cơ bản:

Thị lực giảm và mù lòa là điều không tránh khỏi nếu không được điều trị sớm. Với bệnh này chỉ cần xét nghiệm đơn giản cũng có thể phát hiện ở giai đoạn sớm và bệnh có thể chữa khỏi.

Những thử nghiệm để xác định cườm nước:

-         Bác sĩ nhãn khoa đo nhãn áp bằng áp kế, để biết nhãn áp bên trong mắt.
-         Soi đáy mắt để phát hiện tổn thương thần kinh thị giác và các mạch máu.
-         Đo thị trường để biết tiến triển của bệnh sớm hay muộn.

Bác sĩ có thể làm gì cho bệnh nhân ?

-         Khi phát hiện bệnh nhân bị tăng áp bác sĩ cho nhỏ thuốc và uống thuốc làm hạ nhãn áp. Nếu điều trị bằng thuốc không hết thì phải mổ.
-         Khi nhãn áp đã hạ vẫn nên đến bác sĩ thường xuyên vì nhãn áp có thể tăng trở lại.

Phòng ngừa:

-         Ở tuổi 40 trở lên, nên đi khám mắt định kỳ.
Nếu bị tăng áp mắt thì phải điều trị theo lời khuyên của bác sĩ và dùng thuốc một cách chính xác.

B.S. NGUYỄN CƯỜNG NAM
Nguồn: ubmvgiadinh.org