"Để trong mọi sự, Thiên Chúa được hết lòng yêu mến" (Ut in omnibus maxime ametur Deus) - Hội Dòng Khiết Tâm xin kính chào quý vị!
Rss Feed

BIẾT MÌNH ĐỂ HIỂU ĐƯỢC TÌNH YÊU

Nơi con người có hai khuynh hướng : trước hết là yêu mình và muốn bảo toàn mình. Khuynh hướng này tự nó không xấu, nó chỉ phá vỡ thế quân bình khi quá đáng và loại trừ tất cả. Đó là khi con người tìm kiếm mình một cách vô độ, thích khoe mình hay thích thống trị, các tác giả tu đức gọi đây là lòng yêu chuộng hư danh. Đường về nhà Chúa lúc đó bị mất hút trong những bụi cây ích kỷ. Nếu còn nghĩ tới Chúa thì đó cũng là để kéo Người về cho mình và lợi dụng.
           Khuynh hướng thứ hai cũng tiềm tàng trong lòng mọi người. Đó là sự hướng ngoại, quan tâm đến những cái chung quanh và đến những người khác, muốn làm việc gì hữu ích. Khi khuynh hướng này được phát triển trong đời sống đạo, ta sẽ thấy đương sự yêu Chúa vì chính bản thân Người càng ngày càng nhiều hơn, yêu một cách vô cầu (nhưng-không), cũng như lòng quảng đại có sẵn nơi chính bản tính con người – hình ảnh của Thiên Chúa sẽ triển nở thành một tình yêu giống tình yêu của Ba Ngôi, trong đó mỗi Ngôi hiến thân cho Ngôi kia một cách trọn vẹn.
        Vì nơi con người có hai khuynh hướng đó, nên chữ tình yêu trở nên rất hàm hồ. Các nhà tư tưởng Hy lạp dùng một từ vựng chính xác hơn. Họ phân biệt “éros” (tình yêu nhục dục) và “agapè” (tình yêu bác ái). Chúng ta cũng sẽ dùng hai từ này cho tiện lợi.
        Eros là khuynh hướng chiếm hữu người khác bằng cách yêu thương họ vì họ làm mình say mê, vì nhiều niềm vui và lợi lộc rút được từ tình yêu ấy. Khi nhìn lại quá khứ, Augustin đã thú nhận : “Hồi đó tôi thích mình được yêu”. Ở đây không còn vấn đề gì nữa, phải thẳng thắn lên án thứ tình yêu đó. Trong bất cứ tình cảm tha thiết nào của con tim cũng có một phần tình yêu nhục dục, nhất là vào lúc đầu.
         Tôi cảm thấy bị thu hút đến với người kia, đôi khi bị quyến rũ và mê mẩn ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Tôi không thể giải thích tại sao lại có sự thu hút đó, nó như áp đặt lên tôi. Tại sao bạn yêu người ấy ? Tôi không thể trả lời được, chỉ biết là tim tôi đã bị chinh phục. Khi kể lại tình bạn của mình với La Boétie, Montaigne đã nói : “bởi vì đó là chàng, bởi vì đó là tôi”. Rồi sau đó nếu tình yêu không còn là sự hiến dâng cho người khác, mà chỉ là yêu để “hưởng” thôi, ta sẽ rơi vào tình trạng mất quân bình. Tôi sẽ tìm người khác không phải vì bản thân họ, mà chỉ vì họ đem lại khoái cảm cho tôi. Lúc đó tình yêu không còn vô vị lợi nữa, mà chỉ là phương thế  để tìm cảm giác dễ chịu của tình yêu. Thậm chí người kia có thể bị xử dụng vì họ đem lại những lợi lộc cho tôi. Rất tiếc trong cuộc hành trình yêu thương của nhiều cặp vợ chồng tình yêu nhục dục chiếm quá rõ. Đôi khi người ta từ chối con cái như trong xã hội hôm nay là vì họ đã thần thánh hóa tình yêu nhục dục. Vì nếu đứa con đòi phải được yêu thương vì chính bản thân nó, thì thật là phiền phức. Người ta đã tự hạ mình xuống ngang hàng thú vật một cách ích kỷ và khi thấy nó cản trở thì có thể loại bỏ một cách dễ dàng. Cuộc sống trở thành một hố sâu ích kỷ, lúc nào cũng u ám buồn sầu.
          Đặt trong bối cảnh đó ta sẽ thấy đam mê vừa có giá trị vừa thật hàm hồ. Con người có thể sống đam mê. Và theo một cách phân loại tính tình, đam mê là tính cách phong phú nhất. Người làm khoa học đam mê khám phá. Người hoạt động đam mê thực hiện những công trình, làm cho cuộc sống thống nhất và làm cho nó trở thành cao cả, đẹp đẽ. Nhưng, cũng như mọi tình cảm trong lòng con người, đam mê rất hàm hồ và có thể trở nên xấu khi người ta không hướng sự đam mê tới việc thực hiện hình ảnh của Thiên Chúa, mà con người đang cưu mang trong mình. Đương sự có thể tận dụng sức đam mê nơi mình để tìm kiếm bản thân, coi thường Thiên Chúa và anh em. Con người có thể dâng tình yêu say mê đó cho một thụ tạo không phải để đi tìm cái tốt thật sự,  làm cho sự phát triển bản thân của thụ tạo đó trở nên mong manh không chắc chắn. Lúc đó lý trí sẽ không kiểm soát được cái khả giác : con người sẽ không còn đáp lại tiếng Chúa gọi, hay chỉ còn ít thôi.
           Nhưng nơi con người cũng có tình yêu bác ái (chỉ Thiên Chúa tình yêu ấy mới trọn vẹn). Chúng ta được ban cho khả năng yêu như Chúa yêu, đó chính là sự cao đẹp của ơn gọi con người : “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Linh mà Người ban cho ta” (Rm 5,5)
       Bản dịch Kinh Thánh của trường Giêrusalem có ghi chú : tình yêu Thiên Chúa, tức là “tình yêu mà Người đã yêu thương”. Tình yêu nồng cháy, tình yêu đam mê đang cháy nóng trong con tim Thiên Chúa, tình yêu đã được Chúa Thánh Linh đưa vào trái tim chúng ta. Thiên Chúa không ù lì bất động một cách lạnh lùng, mà dâng hiến trọn vẹn, nồng nàn giữa các Ngôi với nhau. Từ đời đời, Cha yêu thương Con bằng một tình yêu tới mức “Cha hoàn toàn mãn nguyện với Con”. Trong tình yêu đó không có chút gì là quay về với bản thân một cách ích kỷ, mà luôn luôn nhìn tới Ngôi kia, vui sướng trong Ngôi kia. Đó là một tình yêu đích thực chỉ muốn cái tốt cho Ngôi vị được yêu và hiến thân cho Ngôi ấy với lòng tận tụy thiết tha, nguồn cội vĩnh cửu sinh ra mọi tâm tình thiết tha tận tụy của con người.
        Hỡi con, mọi sự của Cha là của con. Chính tình yêu ấy đã làm cho Con hiện hữu và cũng có khả năng để yêu thương như vậy. Lễ dâng đáp trả của Con cũng không thua kém gì sự trao ban đầu tiên của Cha. Cha và Con đồng bản tính với nhau trong tình yêu triệt để ấy, một tình yêu đã nối kết hai bên. Ngôi mà ta gọi là Thánh Linh không phải là một nhân vật thứ ba thêm vào cuộc trao đổi ấy, nhưng là chính tình yêu đó với tất cả sức mạnh, tất cả sự triệt để mà chỉ có Chúa mới đủ khả năng có được.
        Con người đã được ban cho khả năng sống tình yêu bác ái. Đó chính là sự tham dự cao nhất của con người vào những sự sống của Thiên Chúa. Khả năng này không chỉ dành cho người đã chịu rửa tội, mà còn được ban cho hết mọi người “bằng cách nào, chỉ có Chúa biết” (MV 22,5). Như thế, con người đã được ban cho khả năng yêu thương anh em bằng một tình yêu thật sự của Thiên Chúa, bằng tất cả sự thật của tình yêu Thiên Chúa. Vợ chồng hiến thân cho nhau trọn vẹn bằng cách luôn tìm sự hài lòng của người họ yêu. Cha mẹ khơi dậy một sự sống mới, không phải để hài lòng tự mãn hay để được tiếp tục tồn tại nơi các con cái, nhưng để đưa con cái tới chỗ tự do làm người. Bạn bè thì muốn chia sẻ tất cả cho nhau và như thế họ đã tham dự vào kinh nghiệm của Ba Ngôi, vì theo một cách diễn tả rất hay của Aered de Rievaulx : “Thiên Chúa là tình bằng hữu”. Có người hiến cả cuộc đời để phục vụ công lý. Chúng ta đã biết khi phụng sự những chính nghĩa lớn của con người, lòng tận tụy của chúng ta có thể làm được nhiều chuyện.
        Như thế, sự đam mê đã triển nở hết sức của nó. Ta có thể nói tới sự đam mê yêu thương của Thiên Chúa, theo hai nghĩa : đam mê là sức mạnh của tình yêu và đam mê là chấp nhận đau khổ để chứng minh tình yêu ấy.
Dù tội lỗi của con người có lớn đến đâu, dù sự điên cuồng của con người có ồ ạt phá hoại đến đâu, vẫn không ngăn cản Thiên Chúa yêu thương con người. Dacaria, thân phụ của Gioan tẩy giả, đã ca ngợi “lòng trắc ẩn của Thiên Chúa” (Lc 1,78), một kiểu nói làm ta nói tới tình cảm của người mẹ một cách hết sức hiện thực. Chính Đức Giêsu cũng bị nung nấu một nỗi đam mê đi tìm vinh quang cho Cha như thế : “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt vào thân” (Ga 2,18)
           Nhiệt tâm ấy sẽ đưa Người tới thập giá. Chúa Thánh Linh đặt trong lòng ta sự đam mê hiến thân. Phaolô đã nhắc cho người Thêxalônica nhớ tới lòng tha thiết của Ngài muốn đem Tin Mừng đến cho họ, như sự thiết tha của một người mẹ : “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi đã quí mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến thân cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi” (1Tx 2,7-8)
       Ở đây Phaolô dùng ngôi thứ nhất số nhiều, và qua đó ta hiểu được rằng Phaolô không cho rằng chỉ mình Ngài có thái độ yêu thương bác ái như vậy, mà nghĩ rằng đó là đặc điểm của tất cả những người loan báo Tin Mừng. Khi Ignace (Atioche) kêu nài cộng đoàn Kitô hữu Roma đừng can thiệp gì hết để cứu Ngài, mà hãy để Ngài “noi gương cuộc khổ nạn (passion) của Chúa”, thánh nhân nhắm nói tới những đau khổ của Đức Kitô, nhưng nguồn gốc của chữ “passion” cũng có nghĩa là lòng yêu mến của Ngài đối với Chúa Cha.
Đức ái được phú vào lòng mỗi người chính là sự đam mê hiến thân, là muốn điều tốt cho người khác và muốn yêu, muốn phục vụ họ một cách vô vị lợi tối đa, dù họ không muốn hay không thể đáp lại. Biểu hiện lớn nhất của tình yêu đó là tha thứ và yêu thương kẻ thù : “Anh em hãy trở nên giống Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người cho mưa xuống trên kẻ dữ cũng như người lành” (Mt 4,45)
        Dù yếu đuối, ta cũng được Chúa ban cho vinh dự thông phần vào tình yêu bác ái của Người. Đưa con người vào trong đời sống Ba Ngôi không phải là một điều chỉ có trên lý thuyết  hay trong khái niệm, nhưng là được cho tham dự vào một hành vi yêu thương mà chỉ Thiên Chúa mới có khả năng làm được. Tình yêu của con người lúc nào cũng pha lẫn tình yêu nhục dục và tình yêu bác ái, kể cả khi cầu nguyện (vì thế phải không ngừng thanh luyện việc cầu nguyện). Nhưng dần dần, dưới tác động của Chúa Thánh Linh, nơi con người sẽ hình thành một con tim thuần khiết, một tình yêu hết sức thật, đưa ta xích lại gần cõi phúc của Thiên Chúa mỗi ngày một hơn.

 
Nguồn: congdoangapgo.net